Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH HÓA

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 08/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiểm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Hùng;
  2. Ông Hoàng Đức Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Huế - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Xuân Đ (không có tên gọi khác), sinh: 08/3/1987, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.Nơi cư trú: Xóm Y, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân Đ1 và bà Lê Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.

Tiền án: Có 04 tiền án.

  • Tại bản án số 73/2008/HSST ngày 23/12/2008, của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Hoàng Xuân Đ 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/11/2011).
  • Tại bản án số 01/2013/HSST ngày 03/01/2013, của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Hoàng Xuân Đ 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/7/2013).
  • Tại bản án số 02/2014/HSST ngày 12/3/2014, của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Hoàng Xuân Đ 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2016).
  • Tại bản án số 04/2017/HSST ngày 28/02/2017, của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Hoàng Xuân Đ 6 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. (Chấp hành hình phạt tù xong ngày 09/4/2022).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến nay. hiện đang bị tạm giam tại Nhà giữ Công an huyện Đ. (Có mặt).

* Người làm chứng:

  1. Anh Đỗ Văn K, sinh năm 1973. Địa chỉ: Xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
  2. Anh Mai Thanh T, sinh năm 1998. Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).

* Người chứng kiến: Anh Hứa Đức N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 27/02/2024, Công an xã T nhận được tin báo tại nhà Đỗ Văn K ở xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có một số đối tượng tụ tập có biểu hiện liên quan đến tội phạm về ma tuý. Công an xã T tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Đỗ Văn K, khi đến kiểm tra có Đỗ Văn K, sinh năm 1973 là chủ nhà và Mai Thanh T sinh năm 1998; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Hoàng Xuân Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: xóm Y, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình kiểm tra Đỗ Văn K và Mai Thanh T không thu giữ gì, Hoàng Xuân Đ tự giác giao nộp 02 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng, Đ khai là ma tuý, loại Heroine vừa mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực cổng phụ trường Trung học phổ thông B, huyện Đ với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng. Công an xã T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng là 02 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng nghi là H1 (Đ khai là ma tuý, loại hê rô in) ký hiệu là A1. Ngoài ra, Công an xã T còn thu giữ của Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát: 20C1-157.12 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu đỏ đen, xe cũ đã qua sử dụng. Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tạng, thu giữ vật chứng, tài sản Công an xã T chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Kết quả, cân số chất bột màu trắng trong bì phong bì kí hiệu A1 trên có tổng khối lượng là 0,286gam sau đó niêm phong lại trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 411/KL-KTHS ngày 06/3/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; khối lượng là 0,286 gam.

Quá trình điều tra Hoàng Xuân Đ khai nhận như sau: Bản thân Đ là người nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 27/02/2024, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 20C1-157.12 (xe của bà Lê Thị H là mẹ đẻ của Đ) đi một mình từ nhà ra khu vực cổng phụ trường Trung học phổ thông B thuộc xóm Y, xã B mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng, tại đây Đ gặp một nam thanh niên khoảng hơn 20 tuổi Đ không quen biết đứng ở đó, Đ hỏi “Có đồ không để cho anh một cái” (ý hỏi mua ma tuý), nam thanh niên đó gật đầu và hỏi Đ “Lấy mấy cái”, Đ nói “Lấy một cái”, Đ đưa cho người đó 100.000 đồng, nam thanh niên đó đưa cho Đ 01 gói ma túy loại Heroine. Sau đó Đ điều khiển xe đi ra cánh đồng dừng lại lấy gói ma túy vừa mua được ra sử dụng một phần bằng hình thức hít. Sau đó Đ chia phần còn lại ra thành 02 gói ma tuý gói bằng giấy bạc màu vàng cất giấu trong người rồi đi xe mô tô đến nhà Mai Thanh T rủ T đến nhà Đỗ Văn K chơi. Khi vào đến nhà K, có một mình K ở nhà, Đ, T và K vừa ngồi xuống bàn uống nước nói chuyện thì tổ công tác Công an xã T đến kiểm tra hành chính, tổ công tác kiểm tra K và T không thu giữ gì, Đ biết là không thể che giấu được nên đã tự giác giao nộp 02 gói Heroine cho tổ công tác. Sau đó, Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong 02 gói ma tuý Đ vừa giao nộp. Ngoài ra, Công an xã T còn thu giữ của Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát: 20C1-157.12 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu đỏ đen, xe cũ đã qua sử dụng. Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tạng, thu giữ vật chứng, tài sản, Đ được Công an xã T đưa đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra xác định trước khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nêu trên, Hoàng Xuân Đ có 04 tiền án.

Quá trình điều tra Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu là A2, bên trong là 0,276 gam mẫu ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2; 01 bì niêm phong ký hiệu là A3, bên trong có chứa vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 20C1-157.12 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu đỏ đen, xe cũ đã qua sử dụng quá trình điều tra Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Lê Thị H là mẹ đẻ của Hoàng Xuân Đ.

Bản Cáo trạng số: 36/CT-VKSĐH ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Xuân Đ ra trước Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xác định bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hoàng Xuân Đ về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử :

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Xuận Đ2 từ 06 đến 07 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 27/02/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho công tác thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu là A2, bên trong là 0,276 gam mẫu ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2; 01 bì niêm phong ký hiệu là A3, bên trong có chứa vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng.
  • Về án phí: Áp dụng các điều 135,136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Hoàng Xuân Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.

Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận, bào chữa.

Nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người làm chứng Đỗ Văn K và Mai Thanh T đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên toà nhưng anh K, anh T vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về sự vắng mặt của họ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa đề nghị xét xử vắng mặt anh K, anh T. Xét thấy, việc vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Xuân Đ, khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến về thời gian, địa điểm bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma tuý bị bắt quả tang, về số Heroine bị cáo bị thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, tại nhà Đỗ Văn K thuộc xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Xuân Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,286 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị công an xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yêu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra xác định trước khi bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nêu trên, bị cáo Đ có 04 tiền án về các tội: Cố ý gây thương tích, Trộm cắp tài sản, Cướp giật tài sản. Đối với tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999, bị Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 năm tù, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù của bản án này ngày 09/4/2022, chưa được xoá án tích, nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sử đổi bổ sung năm 2017.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ....

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a)...;

o) Tái phạm nguy hiểm.”

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Xét tính chất, hậu quả hành vi của các bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma tuý; gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chung trong xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện; vì vậy, hành vi của bị cáo phải xử lý nghiêm minh.

[5] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có 04 tiền án về các tội Cố ý gây thương tích, Trộm cắp tài sản, Cướp giật tài sản, với các mức án nghiêm khắc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân; ngược lại, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; vì vậy, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung trong xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích để sử dụng cho cá nhân bị cáo, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu là A2, bên trong là 0, 276 gam mẫu ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2; 01 bì niêm phong hiệu là A3, bên trong có chứa vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng. Cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo Đ khai mua của người đàn ông tại khu vực gần cổng phụ trường THPT B thuộc xóm Y, B, huyện Đ, do Đ không biết rõ tên, tuổi địa chỉ của người này nên không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ.

Xe mô tô biển kiểm soát 20C1-157.12 bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định xe của bà Lê Thị H, mẹ đẻ của bị cáo, bà H không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả cho bà H là đúng quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng hình phạt, xử lý vật chứng và về án phí đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Xuân Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Đ 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam, ngày 27/02/2024.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu là A2, bên trong là 0,276 gam mẫu ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2; 01 bì niêm phong ký hiệu là A3, bên trong chứa vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang và 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03/7/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Hóa).

  3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135,136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Hoàng Xuân Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • TAND Tỉnh Thái Nguyên;
  • VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • VKSND huyện Định Hoá;
  • Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • Công an huyện Định Hóa;
  • Chi cục THADS huyện Định Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Văn Kiểm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger