Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Ý YÊN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Khảnh Bà Trương Thị Dung
  • - Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Cấp - Kiểm sát viên.

Ngày 21/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLST-HS, ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Minh T, sinh ngày 19/01/1999; Nơi sinh: Xã Y huyện Ý tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn A xã Y huyện Ý, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Phạm Hồng Q (đã chết) và bà Đỗ Thị B; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/02/2024 đến ngày 01/3/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.

Bị hại: Ông Phạm Hồng T1, sinh năm 1940,

Nơi cư trú : Thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.

Người làm chứng: Chị Đỗ Thị B, cháu Phạm Minh L (chị B là đại diện hợp pháp của cháu L).

Tại phiên tòa: Bị cáo, bị hại có mặt. Người làm chứng: Có mặt chị B, vắng mặt cháu L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Minh T là cháu nội ông Phạm Hồng T1. Khoảng 15h ngày 14/02/2024, T đi bộ từ nhà đến nhà ông T1 chơi, thấy ông T1 không ở nhà, nên T nảy sinh ý định trộm cắp tiền của ông T1 để tiêu xài cá nhân. T đi vào buồng ngủ lục tìm phát hiện tại túi áo bộ đội xanh treo ở cuối giường có số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) được bọc trong 01(một) tờ giấy màu trắng. T liền bỏ bọc tiền vào túi quần rồi tiếp tục lục tìm tại túi áo vest màu nâu treo ở đầu giường có 01(một) phong bao lì xì màu đỏ, bên trong đựng số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng). Tổng số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) trộm cắp được của ông T1, T bỏ vào chiếc túi chéo màu đen của mình, sau đó đi bộ ra đường Cao tốc bắt xe khách đi Hà Nội tiêu xài vào mục đích cá nhân hết số tiền này.

Sáng ngày 15/02/2024, ông Phạm Hồng T1 phát hiện bị mất tài sản nên đã trình báo Công an xã Y.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin báo tội phạm, Công an xã Y đã tiến hành điều tra, xác minh, ghi nhận hiện trường và thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan, thu giữ : 03 (ba) đoạn Video tại phòng khách nhà ông Phạm Hồng T1, được lưu trữ vào 01(một) USB được niêm phong; Thu giữ 10 (mười) bản phô tô tin nhắn giữa T và ông T1; 04 (bốn) bản phô tô nội dung tin nhắn giữa T và chị Đỗ Thị B (mẹ đẻ T). Ngày 21/02/2024, Công an xã Y chuyển giao hồ sơ vụ việc cho cơ quan CSĐT Công an huyện Ý thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, ngày 24/02/2024 Phạm Minh T đến Công an huyện Ý trình diện và đầu thú.

Ngày 01/3/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Minh T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng đã thu giữ: 03 (ba) đoạn Video tại phòng khách nhà ông Phạm Hồng T1, được lưu trữ vào 01(một) USB được niêm phong; 10 (mười) bản phô tô tin nhắn giữa T và ông T1; 04(bốn) bản phô tô nội dung tin nhắn giữa T và chị Đỗ Thị B (mẹ đẻ T) được lưu trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự : Bị can tác động mẹ đẻ là chị Đỗ Thị B đã trả lại cho ông T1 số tiền 10.000.000₫(Mười triệu đồng), ông T1 đã nhận lại số tiền trên và có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Cáo trạng số 38/CT-VKS.HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định truy tố Phạm Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại có lời khai xác nhận đã được trả lại số tiền bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Minh T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 24/02/2024. Hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được lưu giữ trong hồ sơ vụ án nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, do bị cáo hiện đang bị bệnh thận, sức khỏe yếu nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh N; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 15h ngày 14/02/2024, tại nhà ông Phạm Hồng T1 ở thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Phạm Minh T đã lợi dụng lúc ông T1 không có nhà, đi vào trong buồng ngủ của ông T1 lục tìm và lén lút lấy đi số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) là tài sản của ông Phạm Hồng T1.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến công tác giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã Y nói chung và huyện Ý nói riêng. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên đã truy tố.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tác động với gia đình để khắc phục hậu quả trả lại số tiền chiếm đoạt cho bị hại; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương; khi hành vi phạm tội của mình bị phát hiện bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú; bị cáo hiện đang bị bệnh thận là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự.

[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và mang tính phòng ngừa chung.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Xử lý vật chứng: Vật chứng đã được lưu giữ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử không cần phải có quyết định gì thêm.

[8] Về bồi thường dân sự: Tài sản đã được trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; điểm i Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 24/02/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Minh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh + huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Phòng lưu trữ CA tỉnh N;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự;
  • - UBND xã Yên Thành huyện Ý Yên tỉnh Nam Định;
  • - Bị cáo; bị hại ;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu: VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Có tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger