Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST.

Ngày: 21/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi – Ông Dương Viết Vĩnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Ngô Quốc Hưng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Đào Anh T, sinh năm 2004; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án: 01 tiền án; Tại bản án HSST số 59 ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Đào Anh T 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Cướp giật tài sản”; Tiền sự: Không; Con ông Đào Thanh B, sinh năm 1973 đã chết và bà Nguyễn Lệ T1, sinh năm 1975; vợ: Trần Ngọc L, sinh năm 2004, con: chưa có; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024 đến nay, hiện đang giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
  2. Họ và tên: Nguyễn Quang H, sinh năm 2004; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Tổ F, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở hiện nay: Xóm F, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án: 01 tiền án. Ngày 01/10/2021; Tại bản án HSST số 613 ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã xử phạt Nguyễn Quang H 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; Tiền sự: Không; Con ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Phùng Thị Cẩm N, sinh năm 1976; Vợ: Hiện sống chung cùng Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 2004 (chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con chung Nguyễn Ngọc Tuệ N1, sinh năm 2022; Gia đình có 02 anh em (em cùng mẹ khác bố), bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024 đến nay, hiện đang giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
  3. Họ và tên: Trần Ngọc L, sinh năm 2004; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm L, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án HSST số 59 ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Trần Ngọc L 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Cướp giật tài sản”. Tiền sự: Không; Con ông Trần Văn Q, sinh năm 1984 (đã chết) và bà Trần Thị H1, sinh năm 1982; chồng: Đào Anh T, con: chưa có; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Bà Trần Thị H1, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Xóm L, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).

  5. Người làm chứng:
    • Anh Đỗ Đức T3, sinh ngày 21/9/2006 ( Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Đức T3: Chị Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Lê Duy K, sinh ngày 12/10/2003 (Vắng mặt).

      Nơi thường trú: tổ dân phố G, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

    • Anh Vũ Trọng B1, sinh ngày 31/7/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Vũ Trọng B1; Ông Vũ Trọng K1, sinh năm 1984; Nơi thường trú: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Đỗ Mạnh Đ, sinh ngày 05/11/2005 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Đỗ Mạnh Đ; Bà Đỗ Thị V, sinh năm 1986; Nơi thường trú: xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Mai Trọng T4, sinh ngày 23/5/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Mai Trọng T4: Bà Đỗ Thị Ngọc B2, sinh năm 1978 (mẹ đẻ của bị cáo T4); Nơi thường trú: xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Vũ Thành L1, sinh ngày 06/7/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Vũ Thành L1: Bà Vũ Thị L2, sinh năm 1986 (mẹ đẻ của L1); Nơi thường trú: Tổ D, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Tô Thiết T5, sinh ngày 10/4/2005 (Vắng mặt).

      Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Đồng Thịnh, thị trấn Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

    • Anh Vương Hoài N2, sinh ngày 03/8/2005 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Vương Hoài N2: Anh Vương Văn Đ1, sinh năm 1985 (bố đẻ bị cáo N2); Nơi thường trú: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Đinh Hoàn K2, sinh ngày 04/9/2005 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Đinh Hoàn K2: Anh Lưu Ngọc V1, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Xóm B, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Trần Duy K3, sinh ngày 11/10/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Trần Duy K3: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1982 (mẹ đẻ của bị cáo K3); Nơi thường trú: xóm L, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Lương Quốc V2, sinh ngày 04/10/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Lương Quốc V2: Ông Lương Văn S1, sinh năm 1982 (bố đẻ của bị cáo V2); Nơi thường trú: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 20/11/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc D: Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1977 (bố đẻ của bị cáo D); Nơi thường trú: tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Võ Duy N3, sinh ngày 04/11/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Võ Duy N3: Ông Võ Quốc H4, sinh năm 1958 (bố của bị cáo N3); Nơi thường trú: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Trần Quang D1, sinh ngày 21/11/2005 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Trần Quang D1: Ông Trần Văn K4, sinh năm 1979 (bố đẻ của bị cáo D1); Nơi thường trú: tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Dương Mạnh D2, sinh ngày 28/9/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của anh Dương Mạnh D2: Bà Nguyễn Thị N4, sinh năm 1981 (mẹ đẻ của bị cáo D2); Nơi thường trú: Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Lê Quang T6, sinh ngày 20/8/2006 (Vắng mặt).

      Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ D, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

      Người đại diện hợp pháp của anh Lê Quang T6: Bà Ngô Thị M, sinh năm 1985 (mẹ đẻ của bị cáo T6); Nơi thường trú: Tổ D, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

    • Anh Hầu Đức T7, sinh ngày 17/10/2003 (Vắng mặt).

      Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    • Chị Phạm Thị Thanh H5, sinh ngày 30/3/2006 (Vắng mặt).

      Người đại diện hợp pháp của chị Phạm Thị Thanh H5: Bà Trịnh Thị T8, sinh năm 1985; Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

    • Anh Dương Bá G, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

      Nơi thường trú: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Buổi tối ngày 14/7/2023, Lê Duy K, sinh năm 2003; Trú tại: Tổ dân phố G, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Phạm Thị Thanh H5, sinh năm 2006; Trú tại: Xóm C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vũ Trọng B1, sinh năm 2006; Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Dương Mạnh D2, sinh năm 2006; Trú tại: Tổ F, phường T, thành phố T; Võ Duy N3, sinh năm 2006; Trú tại: Xóm M, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An điều khiển xe mô tô đi qua khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì bị một nhóm đối tượng, hiện không xác định được là ai cầm theo dao, kiếm đuổi đánh khiến cả nhóm phải bỏ chạy. Sau đó, K tìm hiểu thông tin qua mạng xã hội Facebook thì biết có một nam thanh niên trong nhóm này có tên F là “Thành Nam”, nên đã nhắn tin qua M1 và hẹn nhóm của “Thành Nam” đến tối ngày 15/7/2023 sẽ gặp, đánh nhau tại khu vực thành phố P. Đến ngày 15/7/2023, K gọi điện qua ứng dụng M2 nói cho Dương Mạnh D2 biết việc đã hẹn được nhóm “Thành Nam” để đánh nhau và rủ D2 cùng đi, thì D2 đồng ý và bảo K xuống Hà Nội đón D2 về. K tiếp tục gọi điện qua M1 rủ B1, Tô Đình H6, sinh năm 2003; Trú tại: Tổ B, phường P, thành phố T và H5 đi xuống Hà Nội để đón D2. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, nhóm của K gặp D2 và Võ Duy N3. K nói chuyện cho cả nhóm biết việc đã hẹn nhóm “Thành Nam” ở P để đánh nhau và rủ mọi người đi tìm, đánh nhóm này. Do Nam, H6 không đồng ý tham gia nên đã bỏ về trước. Sau đó, K tiếp tục điện thoại qua Messenger cho Đỗ Đức T3, sinh năm 2006; Trú tại: Tổ D, phường P, thành phố T; Mai Trọng T4 sinh năm 2006; Trú tại: Xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, D2 nhắn tin qua Messenger rủ Đỗ Mạnh Đ, sinh năm 2005; Trú tại: Xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cùng đi đánh nhau với K thì được những người này đồng ý. D2 bảo Đ chuẩn bị công cụ, vũ khí, hung khí (dao, kiếm, phóng lợn...) để mang đi đánh nhau thì Đ đồng ý chuẩn bị cho cả nhóm. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ nói chuyện với với Đinh Hoàn K2, sinh năm 2005; Trú tại: Xóm T, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Trần Duy K3, sinh năm 2006; cùng trú tại: Tổ C, phường T, thành phố T; Trần Ngọc L (là chị gái ruột của Trần Duy K3); Đào Anh T về việc được Lê Duy K rủ đi đánh nhau với nhóm của “Thành Nam” ở thành phố P thì K2, Trần Duy K3, L, T đồng ý đi đánh nhau cùng với Đ. Cả nhóm đi về nhà của Đ tại xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để lấy 03 dao tự chế bằng kim loại gồm 02 dao tự chế hàn dao nhọn (hay còn gọi là phóng lợn), 01 dao tự chế hàn dao phay dài khoảng 02m mang đi làm công cụ, hung khí đánh nhau và đưa cho K2 cầm. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, cả nhóm hẹn nhau xuống khu vực siêu thị G1 thuộc tổ B, phường T, thành phố T để gặp nhóm của T4. Khi đến nơi Đ, K2 giấu phóng lợn vào bãi cỏ ven đường. Lúc này, T4 và T3 cũng đi đến, T3 rủ thêm Phạm Thanh H7, sinh năm 2007; Trú tại: Xóm S, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên cùng đi, nhưng không nói cho H7 biết việc đi đánh nhau. T gọi điện rủ thêm Tô Thiết T5, sinh năm 2005; Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Nguyễn Quang H, T5 tiếp tục rủ Vương Hoài N2, sinh năm 2005; Trú tại: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, H rủ thêm Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 2004; Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố T cùng đi ra siêu thị G1, để gặp nhau với mục đích cùng đi xuống đánh nhau với nhóm “Thành Nam” ở thành phố P. Khi đến nơi thì có thêm Vũ Thành L1, sinh năm 2006; Trú tại: Tổ D, phường P, thành phố T, Hầu Đức T7, sinh năm 2003; Trú tại: Xóm S, xã P, thành phố T; Lê Quang T6, sinh năm 2006; Trú tại: Tổ D, phường G, thành phố T; Hà Quang T9, sinh năm 2007; Trú tại: Xóm N, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Lúc này Võ Duy N3, Vũ Thành L1, Hầu Đức T7, Lê Quang T6, Hà Quang T9, Lương Quốc V2, sinh năm 2006; Trú tại: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cùng nhau đi lấy thêm vỏ chai bia thủy tinh (loại vỏ chai bia Hà Nội), để chuẩn bị làm hung khí phục vụ cho việc đánh nhau. Xe của T6 và L1 lấy 01 két đựng khoảng 18-19 vỏ chai bia, xe của T5, Hoài N2 và xe của V2 lấy được 02 két đựng 24 vỏ chai bia.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của Lê Duy K gồm Lê Duy K điều khiển xe mô tô BKS 20E1-351.64 chở theo Phạm Thị Thanh H5, Vũ Trọng B1 điều khiển xe mô tô BKS 20F1-733.60 chở theo Dương Mạnh D2 đi từ Hà Nội về khu vực thành phố P để tìm đánh nhóm của thanh niên có F1 là “Thành Nam”. Lúc này tại khu vực siêu thị G1 - Thái Nguyên, sau khi chuẩn bị xong công cụ, vũ khí, hung khí thì K2 cầm 01 dao tự chế hàn dao phay và 05 vỏ chai bia, Hoài N2 cầm 01 dao tự chế hàn dao nhọn và 06 vỏ chai bia, T3 cầm 01 dao tự chế hàn dao nhọn và 03 vỏ chai bia, Trần Duy K3 cầm 03 vỏ chai bia, H cầm 04 vỏ chai bia, T6 cầm 04 vỏ chai bia, V2 cầm theo 01 dao tự chế hàn dao nhọn rồi cùng nhau đi xuống khu vực thành phố P gặp nhóm của Lê Duy K, rồi cùng nhau đi tìm nhóm “Thành Nam” để đánh nhau. Khi đi, nhóm của Đ gồm Đỗ Mạnh Đ điều khiển xe mô tô BKS 20H1-590.81 chở theo Đinh Hoàn K2, Mai Trọng T4 điều khiển xe mô tô BKS 20D1-211.45 chở theo Đỗ Đức T3; Hà Quang T9 điều khiển xe mô tô BKS 20K1-005.43 chở theo Trần Duy K3, Nguyễn Quang H điều khiển xe mô tô BKS 20B2-036.65 chở theo Nguyễn Thị Thu T2, Đào Anh T điều khiển xe mô tô BKS 20L1- 004.26 chở theo Trần Ngọc L, Tô Thiết T5 điều khiển xe mô tô BKS 20C1-371.63 chở theo Vương Hoài N2, Hầu Đức T7 điều khiển xe mô tô BKS 20G1-436.92 chở theo Võ Duy N3, Vũ Thành L1 điều khiển xe mô tô không rõ BKS chở Lê Quang T6, Đặng Thanh H8 điều khiển xe mô tô BKS 20K1-000.11 chở theo Lương Quốc V2 di chuyển theo đường V, qua Q xuống thành phố P và tìm quanh khu vực quảng trường P nhưng không thấy nhóm của “Thành Nam”.

Khoảng 00 giờ ngày 16/7/2023, nhóm Lê Duy K từ Hà Nội về đến P và thì nhóm của Đ tại khu vực ngã tư N, TP .. T3 đưa dao tự chế hàn dao nhọn và 03 vỏ chai bia cho Mạnh D2 cầm đồng thời T3 lấy dao tự chế hàn dao nhọn từ xe của V2 và tiếp tục xin vỏ chai bia của những người trong nhóm. T4 đưa cho Lê Duy K 02 vỏ chai bia, K đưa lại cho H5 cầm. Sau đó nhóm của Lê Duy K, và nhóm của Đ cùng đi về hướng đường D mét gần công ty S2; Lê Duy K tiếp tục gọi điện qua M1 cho “Thành Nam” và hẹn ra đánh nhau. Trong quá trình đợi nhóm này, nhóm của Lê Duy K đi quanh khu vực công ty S2 để tìm nhưng không gặp. Sau đó nhóm của Lê Duy K tiếp tục di chuyển theo đường gom hướng về khu công nghiệp Đ để tìm nhóm của “Thành Nam”, trên đường đi khi đến khu vực Cầu R, thuộc phường M, thành phố P thì gặp xe mô tô BKS 20B1-249.01 do anh Trần Quang D1, sinh năm 2005; Trú tại: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên điều khiển chở theo Nguyễn Ngọc D, sinh năm 2006; Trú tại: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Do nhận thấy có người quen trong nhóm này, nên Quang D1 và D cùng tham gia đi tìm nhóm của “Thành Nam” với nhóm của Lê Duy K. Trên đường đi D lấy 02 vỏ chai bia từ những người trong nhóm để mang đi đánh nhau.

Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, khi cả nhóm đi đến khu vực cầu vượt Đ thì gặp Dương Đức A, sinh năm 2005 đang điều khiển xe mô tô 20H1-568.80 chở theo phía sau là Dương Văn T10, sinh năm 2006, cùng trú tại: Tổ dân phố L, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Khi thấy Đức A và T10, Lê Duy K nói “nhìn gì”, thì Mạnh D2, T3 và Hoài N2 mỗi người dùng 01 vỏ chai bia ném về phía của Đức A và T10 nhưng không trúng khiến vỏ chai bia rơi xuống đường bị vỡ. Sau khi bị ném vỏ chai bia thì Đức A và T10 bỏ chạy vào nhà dân gần đó. Nhóm của Lê Duy K có đuổi theo để tìm và dùng lời nói chửi bới và yêu cầu Đức A, T10 ra nói chuyện nhưng Đức A và T10 không ra. Sau đó, nhóm của Lê Duy K tiếp tục điều khiển xe mô tô di chuyển về phía đường tròn Điềm Thụy để tìm nhóm thanh niên mâu thuẫn. Khi đi qua khu vực quán ăn đêm “Giang Béo” của anh Dương Bá G, sinh năm 1987; Trú tại: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì dừng lại, sử dụng vỏ chai bia ném vào phía trong quán ăn, trong đó Mạnh D2 dùng 01 vỏ chai bia ném vào phía trong cửa quán, T3 dùng 01 vỏ chai bia đáp trúng vào kính chắn gió xe ô tô BKS: 88C-213.58 của anh Nguyễn Hồng T11, sinh năm 1992; Trú tại: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên làm hỏng kính chắn gió phía trước. Thấy vậy, nhóm của K liền bỏ chạy, anh T11 điều khiển xe ô tô điều khiển xe ô tô BKS: 20A-271.12 cùng anh Nguyễn Đình B3, sinh năm 2001; Trú tại: Xóm H, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đuổi theo nhóm của K về phía đường T, huyện P. Trên đường đi, nhóm của K đã tăng ga, lạng lách, đánh võng, đi dàn hàng ngang trên đường nhằm mục đích để cho xe ô tô của anh B3 không vượt lên trên được, đồng thời những người trong nhóm của Lê Duy K đã dùng vỏ chai bia, phóng lợn ném xuống đường, trong đó K2 ném 05 vỏ chai bia, Trần Duy K3 ném 03 vỏ chai bia, H ném 03 vỏ chai bia T6, D ném 01 vỏ chai bia, T3 ném 01 phóng lợn, 01 vỏ chai bia xuống đường nhằm mục đích cản đường di chuyển của xe ô tô và cùng nhau bỏ chạy về hướng thành phố T theo hướng Quốc lộ C. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm H, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, do không làm chủ tốc độ, xe mô tô BKS 20D1-211.45 do T4 điều khiển đã va chạm với xe ô tô do anh B3 điều khiển. Hậu quả khiến T3, T4 bị ngã ra đường, T4 bị thương tích tổn hại 10% sức khoẻ, xe ô tô BKS 20A-271.12 bị hư hỏng thiệt hại 8.691.840 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án Đỗ Đức T3, Lê Duy K, Vũ Trọng B1, Đỗ Mạnh Đ, Mai Trọng T4, Vũ Thành L1, Tô Thiết T5, Vương Hoài N2, Đinh Hoàn K2, Trần Duy K3, Lương Quốc V2, Nguyễn Ngọc D, Trần Quang D1, Võ Duy N3, Dương Mạnh D2, Lê Quang T6, Hầu Đức T7 và Phạm Thị Thanh H5 đã khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên và đã bị xét xử theo bản án số 01 ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Đào Anh T, Nguyễn Quang H và Trần Ngọc Lê B4 trốn khỏi địa phương đến ngày 11/3/2024 thì đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 77, 78 ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện P, kết luận: Xe ô tô BKS: 20A-271.12 bị thiệt hại giá trị 8.691.840 đồng; Xe ô tô BKS: 88C-213.58 bị thiệt hại giá trị 16.631.520 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 734, 735, 736 ngày 28/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận:

  • Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Đức T3, Đỗ Mạnh Đ tại thời điểm giám định là 0%.
  • Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mai Trọng T4 tại thời điểm giám định là 10%.

Vật chứng của vụ án: Không có vật chứng do đã xử lý trong vụ án khác.

Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong.

Bản cáo trạng số 36/CT-VKSPB ngày 03/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Đào Anh T, Nguyễn Quang H và Trần Ngọc L về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Anh T khai: Khoảng 19 giờ ngày 15/7/2023, sau khi nghe Đ nói chuyện với bị cáo và Đinh Hoàn K2, Trần Duy K3, Trần Ngọc L về việc được Lê Duy K rủ đi đánh nhau với nhóm của “Thành Nam” ở thành phố P thì tất cả đồng ý đi đánh nhau cùng với Đ. T gọi điện rủ Nguyễn Quang H cùng nhiều người tụ tập thành nhóm đông người mang theo nhiều hung khí gồm dao tự chế, vỏ chai bia thủy tinh, sử dụng xe mô tô đi trên đường giao thông để tìm đánh nhau với nhóm thanh niên mâu thuẫn trước đó đã đuổi đánh K. Sau đó những người trong nhóm có hành vi ném vỏ chai bia về phía người dân đi trên đường và làm hư hỏng kính 01 xe ô tô để tại rìa đường.

Các bị cáo Nguyễn Quang H, Trần Ngọc L đều thừa nhận cả nhóm đã tụ tập sử dụng xe mô tô chạy nhanh, lạng lách trên đường, ném vỏ chai bia xuống đường, ném dao tự chế xuống đường trên đoạn đường khoảng 3 km mục đích ngăn không cho xe ô tô đuổi theo Đỗ Đức T3.

Các bị cáo đều nhất trí các nội dung đã khai trong quá trình điều tra và lời tại phiên tòa.

Người có quyền lợi liên quan bị tạm giữ xe mô tô không biết con mang xe đi gây rối ngoài đường, nhận trách nhiệm giáo dục con và xin lại tài sản để sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 00 giờ ngày 16/7/2023, nhóm của Lê Duy K đã sử dụng xe mô tô là phương tiện nguy hiểm, trong đó Lê Duy K điều khiển xe mô tô BKS 20E1-351.64 chở theo Phạm Thị Thanh H5, Vũ Trọng B1 điều khiển xe mô tô BKS 20F1-733.60 chở theo Dương Mạnh D2, Đỗ Mạnh Đ điều khiển xe mô tô BKS 20H1-590.81 chở theo Đinh Hoàn K2, Mai Trọng T4 điều khiển xe mô tô BKS 20D1-211.45 chở theo Đỗ Đức T3, Hà Quang T9 điều khiển xe mô tô BKS 20K1-005.43 chở theo Trần Duy K3, Nguyễn Quang H điều khiển xe mô tô BKS 20B2-036.65 chở theo Nguyễn Thị Thu T2, Đào Anh T điều khiển xe mô tô BKS 20L1-004.26 chở theo Trần Ngọc L, Tô Thiết T5 điều khiển xe mô tô BKS 20C1-371.63 chở theo Vương Hoài N2, Hầu Đức T7 điều khiển xe mô tô BKS 20G1-436.92 chở theo Võ Duy N3, Vũ Thành L1 điều khiển xe mô tô không rõ BKS chở Lê Quang T6, Đặng Thanh H8 điều khiển xe mô tô BKS 20K1-000.11 chở theo Lương Quốc V2 mang theo hung khí nguy hiểm gồm dao phóng lợn, dao phay có gắn tuýp sắt, vỏ chai bia..., nhằm mục đích đi tìm nhóm của nam thanh niên có tên F là “Thành Nam” để đánh nhau. Do không gặp được nhóm của “Thành Nam” nên nhóm của K3 đã điều khiển xe mô tô di chuyển qua nhiều tuyến đường của khu công nghiệp Y sau đó đi sang khu công nghiệp Đ để tìm nhưng không thấy. Đến khoảng 01 giờ ngày 16/7/2023, khi đi đến khu vực cầu vượt Đ thì nhóm của K3 gặp Dương Đức A đang điều khiển xe mô tô 20H1-568.80 chở theo phía sau là Dương Văn T10 thì Mạnh D2, T3 và Hoài N2 mỗi người dùng 01 vỏ chai bia ném về phía của Đức A và T10 nhưng không trúng khiến vỏ chai bia rơi xuống đường bị vỡ. Đức A và T10 bỏ chạy vào nhà dân gần đó thì nhóm của K3 đuổi theo để tìm và dùng lời nói chửi bới và yêu cầu Đức A, T10 ra nói chuyện nhưng Đức A và T10 không ra. Sau đó, nhóm của Lê Duy K tiếp tục điều khiển xe mô tô di chuyển về phía đường tròn Điềm Thụy để tìm nhóm thanh niên mâu thuẫn. Khi đi qua khu vực quán ăn đêm “G” của anh Dương Bá G thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì dừng lại, sử dụng vỏ chai bia ném vào phía trong quán ăn, trong đó Mạnh D2 dùng 01 vỏ chai bia ném vào phía trong cửa quán, T3 dùng 01 vỏ chai bia đáp trúng vào kính chắn gió xe ô tô BKS: 88C-213.58 của anh Nguyễn Hồng T11 làm hỏng kính chắn gió phía trước gây thiệt hại 16.631.520 đồng. Thấy vậy, nhóm của K liền điều khiển xe mô tô bỏ chạy, anh T11 điều khiển xe ô tô điều khiển xe ô tô BKS: 20A-271.12 cùng anh Nguyễn Đình B3 đuổi theo nhóm của K về phía đường T, huyện P. Trên đường đi, nhóm của K đã tăng ga, lạng lách, đánh võng, đi dàn hàng ngang trên đường nhằm mục đích để cho xe ô tô do anh B3 không vượt lên trên được, đồng thời những người trong nhóm của Lê Duy K đã dùng vỏ chai bia, phóng lợn ném xuống đường, trong đó K2 ném 05 vỏ chai bia, Trần Duy K3 ném 03 vỏ chai bia, H ném 03 vỏ chai bia T6, D ném 01 vỏ chai bia, T3 ném 01 phóng lợn, 01 vỏ chai bia xuống đường nhằm mục đích cản đường di chuyển của xe ô tô và cùng nhau bỏ chạy về hướng thành phố T theo hướng Quốc lộ C. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm H, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, do không làm chủ tốc độ, xe mô tô BKS 20D1-211.45 do T4 điều khiển đã va chạm với xe ô tô do anh B3 điều khiển. Hậu quả khiến T3, T4 bị ngã ra đường, T4 bị thương tích tổn hại 10% sức khoẻ, xe ô tô BKS 20A-271.12 bị hư hỏng thiệt hại 8.691.840 đồng.

Ý thức và hành vi của các bị cáo Đào Anh T, Nguyễn Quang H và Trần Ngọc L đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

  1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ..., thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
    • Dùng hung khí;"

[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo: Xét hành vi của các bị cáo là gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Xét cần có mức án tương xứng đối với từng bị cáo để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt: Tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải về việc làm của mình; ngày 11/3/2024 thì 3 bị cáo đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đầu thú nên các bị cáo Đào Anh T, Nguyễn Quang H và Trần Ngọc L đều được hường tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Ngọc Lê H9 đang có thai 08 tháng tuổi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS.

Trong vụ án này, các bị cáo Đào Anh T, Nguyễn Quang H và Trần Ngọc L đồng phạm với vai trò là những người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Bị cáo Đào Anh T có 01 tiền án, bị xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 59 ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Đối với bị cáo T phạm tội trong thời gian thử thách. Nên cần chuyển 15 tháng tù cho hưởng án treo nay thành giam và tổng hợp với bản án này là phù hợp quy định tại khoản 5 Điều 65, Điều 56 BLHS.

Bị cáo Nguyễn Quang H có 01 tiền án, bị xử phạt 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 tháng, về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 613 ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Đối với bị cáo H phạm tội trong thời gian thử thách. Nên cần chuyển 27 tháng tù cho hưởng án treo nay thành giam và tổng hợp hình phạt với bản án này là phù hợp quy định tại khoản 5 Điều 65, Điều 56 BLHS.

Bị cáo Trần Ngọc L có 01 tiền án: Ngày 08/01/2023, có hành vi “Cướp giật tài sản”, bị xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 59 ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Đối với bị cáo Lê phạm T12 trong thời gian thử thách, trong vụ án này bị cáo không bị tạm giữ tạm giam ngày nào. Nên cần chuyển 15 tháng tù cho hưởng án treo nay thành giam và tổng hợp hình phạt với bản án này là phù hợp quy định tại khoản 5 Điều 65, Điều 56 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ các phân tích trên thấy có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo T và H; Đối với bị cáo Trần Ngọc L là phụ nữ có thai nên cần giảm một phần hình phạt so với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5]. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Ngọc L, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 21/5/2024 cho đến khi bị cáo chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn BKS: 20L1-004.26, màu sơn đen-bạc, số khung RLHJA3924NY169597, số máy JA39E2666531, dung tích xi lanh: 109,1, đăng ký lần đầu 26/9/2022, do Công an tỉnh T cấp, xe không có gương chiếu hậu cả hai bên, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng, không có chìa khóa xe của bà Trần Thị H1 là mẹ của bị cáo Trần Ngọc Lê . Xét đây là tài sản hợp pháp của chủ sở hữu, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại cho bà H1 quản lý, sử dụng.

[7]. Đối với Phạm Thanh H7 và Hà Quang T9, tại thời điểm thực hiện hành vi H7 và T9 đều chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” theo quy định của pháp luật.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ áp dụng pháp luật:
    • Về hình phạt chính:

      Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 17, Điều 58; Điều 38; khoản 5 Điều 65, Điều 56 BLHS đối với các bị cáo Đào Anh T, Nguyễn Quang H.

      Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 17, Điều 58; Điều 38; khoản 5 Điều 65, Điều 56 BLHS đối với bị cáo Trần Ngọc Lê .

    • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
    • Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.
  2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Anh T, Nguyễn Quang H, Trần Ngọc L phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”.
  3. Hình phạt chính:
    1. Xử phạt Đào Anh T 42 tháng tù, chuyển 15 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 59/2023/HSST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên nay thành giam và tổng hợp với bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 57 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/202024. Được trừ đi thời gian tạm giam tại bản án HSST số 59 ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 42 tháng tù, chuyển 27 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 613/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên nay thành giam và tổng hợp với bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 69 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/202410.
    3. Xử phạt Trần Ngọc L 30 tháng tù, chuyển 15 tháng tù cho hưởng án treo tại bản án số 59/2023/HSST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên nay thành giam và tổng hợp với bản án này. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 45 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Được trừ đi thời gian tạm giam tại bản án HSST số 59 ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/01/2023.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  5. Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Ngọc L, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 21/5/2024 cho đến khi bị cáo chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
  6. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Trả lại bà Trần Thị H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn BKS: 20L1-004.26, màu sơn: đen-bạc, số khung: RLHJA3924NY169597, số máy: JA39E2666531, dung tích xi lanh: 109,1, đăng ký lần đầu 26/9/2022, do Công an tỉnh T cấp, xe không có gương chiếu hậu cả hai bên, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng (không có chìa khóa xe).

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình).

  7. Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.
  8. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo; người có quyền lợi liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • VKS ND huyện Phú Bình;
  • Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình;
  • CQTHAHS Công an huyện Phú Bình;
  • CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
  • Các Bị cáo;
  • Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quang Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger