TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/5/2024
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Hoàng;
- Ông Lê Trường Vũ.
Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Phước Tín – là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Thái Thị Tú T, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ A, khóm L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963; nơi cư trú: Tổ A, khóm L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thái Thị Tú T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà T với ông C do tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 quyển số 1/2005 ngày 06/9/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc như trước nên bà T và ông C đã không còn chung sống nhau từ năm 2020 đến nay. Ngày 29/5/2023 bà T có khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông C được Tòa án thụ lý, hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nên bà T đã rút đơn theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 315/2023/QÐST-HNGĐ ngày 25/9/2023, tuy nhiên tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Thái Thị Tú T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Bà T và ông C có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 06/02/1995 (đã trưởng thành); Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 06/02/2000 (đã trưởng thành) và Nguyễn Thái Ngọc H, sinh ngày 30/12/2012. Hiện cháu H đang sống với bà T. Khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 04/TB-TLVA ngày 02/01/2024; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 48/TB-TA ngày 25/01/2024, số 110/TB-TA ngày 22/02/2024 và các văn bản tố tụng khác cho ông Nguyễn Văn C nhưng ông C vắng mặt tham gia tố tụng tại Tòa án và không cung cấp văn bản ý kiến phản hồi cho Tòa án và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
Ngày 26/01/2024, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xác minh tình trạng cư trú của bị đơn ông Nguyễn Văn C được biết: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963 có nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ 11, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang và lập biên bản không lấy được lời khai ông Nguyễn Văn C có sự chứng kiến của đại diện Ban Ấp.
Ngày 18/3/2024, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành ghi nhận ý kiến cháu Nguyễn Thái Ngọc H trình bày cháu H có nguyện vọng được sống với mẹ là Thái Thị Tú T khi cha mẹ cháu ly hôn.
Ngày 25/4/2024, ông Nguyễn Minh H1 (em ruột ông C) trình bày có sự chứng kiến ban N2 cho biết ông C với bà T là vợ chồng, bà T khởi kiện xin ly hôn với ông C thì ông C biết và có thông tin do đi làm ăn xa nên không đến Tòa án giải quyết việc tranh chấp trên, ông C đồng ý ly hôn với bà T, ông C và bà T có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 06/02/1995 (đã trưởng thành); Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 06/02/2000 (đã trưởng thành) và Nguyễn Thái Ngọc H, sinh ngày 30/12/2012. Hiện cháu H đang sống với bà T, ông C đồng ý giao cháu H cho bà T được tiếp tục nuôi và khỏi phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ thì không có.
Tại phiên tòa, ông C vắng mặt; bà T giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh ông C.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn C vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
- - Về con chung: Bà T và ông C có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 06/02/1995; Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 06/02/2000 và Nguyễn Thái Ngọc H, sinh ngày 30/12/2012. Cháu N và Như đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên không xem xét. Bà T tiếp tục nuôi dưỡng cháu H đến khi trưởng thành và có khả năng lao động. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thái Thị Tú T trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Bà Thái Thị Tú T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Thái Thị Tú T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C có địa chỉ cư trú tại: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn C đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 quyển số I/2005 ngày 06/9/2009. Hôn nhân giữa bà T và ông C là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Bà T khai: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc như trước nên bà T và ông C đã không còn chung sống như vợ chồng từ năm 2020 đến nay, đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho bà T và ông C hàn gắn tình cảm, nhưng ông C vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tình trạng vợ chồng bà T và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì không thể xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững mà còn kéo dài sự đau khổ cho bà T. Xét, cho bà Thái Thị Tú T ly hôn với ông Nguyễn Văn C là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: Bà T và ông C có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 06/02/1995; Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 06/02/2000 và Nguyễn Thái Ngọc H, sinh ngày 30/12/2012. Cháu N và Như đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên không xem xét. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.
Cháu Nguyễn Thái Ngọc H có trình bày nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà Thái Thị Tú T khi cha, mẹ cháu ly hôn.
Để đảm bảo môi trường sống của cháu H không bị xáo trộn và quyền lợi mọi mặt của của con, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung Nguyễn Thái Ngọc H, sinh ngày 30/12/2012, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét chấp nhận.
[3] Về tài sản và nợ chung: Bà Thái Thị Tú T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này giữa bà T và ông C có phát sinh tranh chấp về tài sản chung thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Về án phí: Bà Thái Thị Tú T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Tú T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Thị Tú T được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
- Về nuôi con chung: Bà Thái Thị Tú T và ông Nguyễn Văn C có 03 (ba) người con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 06/02/1995; Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 06/02/2000 và Nguyễn Thái Ngọc H, sinh ngày 30/12/2012. Cháu N và cháu N1 đã trưởng thành và có khả năng lao động được. Bà T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động, ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Thái Thị Tú T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí: Bà Thái Thị Tú T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007810 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Bà Thái Thị Tú T đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Thái Thị Tú T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Dẫm |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Thái Thị Tú T ly hôn Ông Nguyễn Văn C
