Bản án số: 43/2024/HSST
Ngày 24 - 04 - 2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Minh Ngà.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đàm Chí Thân, bà Nguyễn Thị Vịnh
Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Lan - Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Hoàng Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 04 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn P; tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10/12/2000, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn Đ, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Lê Văn C và bà Lê Thị H. Vợ con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 30/12/2023, đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Q. Có mặt.
* Người chứng kiến:
Đinh Văn V – sinh năm 1962, địa chỉ: thôn D, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
Nguyễn Văn T – sinh năm 1972; địa chỉ: thôn B, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
*Người làm chứng:
anh Vũ Công T1 – sinh 2000, địa chỉ: thôn E, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
Anh Phạm Tuấn N – sinh năm 2001, địa chỉ : thôn D xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Tuấn N và Lê Văn P là bạn bè quen biết ngoài xã hội, thường xuyên sử dụng ma tuý loại cần sa. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/12/2023 N gọi điện qua mạng xã hội Messenger Facebook hỏi P mua 1.000.000 đồng ma tuý cần sa để sử dụng cho bản thân, P đồng ý hẹn giao dịch tại khu vực cầu N gần nhà P ở thôn Đ, xã L, thị xã Q. Sau đó N rủ anh Vũ Công T1 nói dối đến nhà P chơi. Cả hai đi xe mô tô của anh T1 đến gần nhà P thì N bảo anh T1 ở ngoài chờ còn N đi ra khu vực cầu N mua của P 02 túi cần sa giá 1.000.000 đồng, N dồn số cần sa mua được vào 01 túi cất giấu trong người, đến khoảng 13 giờ cùng ngày cả hai đi về đến đoạn đường thuộc thôn A, xã H thì bị Công an thị xã Q kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng: thu trong túi áo khoác bên trái Ninh mặc 01 túi nilon chứa thực vật khô nghi là ma tuý.
Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra bắt giữ, khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Lê Văn P tại thôn Đ, xã L, thị xã Q, thu giữ vật chứng: thu trong chiếc ba lô treo trên tường trong phòng treo quần áo 01 lọ nhựa bên trong lọ có 02 túi nilon, thu trong túi quần bò của P treo trên dây quần áo 02 túi nilon, trong các túi đều chứa thực vật khô nghi là ma tuý.
Tại bản Kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: thực vật khô trong 01 túi nilon thu giữ của Phạm Tuấn N có khối lượng 0,817 gam; các thực vật khô trong 04 túi nilon thu giữ tại nơi ở của Lê Văn P có tổng khối lượng 3,632 gam, đều là ma tuý, loại cần sa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, ngoài ra còn khai: nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ và bán cho Phạm Tuấn N là trước đó P đăng nhập vào mạng xã hội Telegram liên hệ với tài khoản “Lão Hứa” mua được 20 gam cần sa với giá 3.200.000 đồng, số ma túy bị cáo nhận được do dịch vụ chuyển phát nhanh chuyển đến, sau khi mua được ma túy bị cáo đã sử dụng cho bản thân hết khoàng ¼, số còn lại bị cao chia thành 06 túi nolon mục đích để bán, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/12/2023 bị cáo đã bán cho P 02 túi với giá 1.000.000đồng, đến 16 giờ cùng ngày bị cáo bị bắt, khi khám xét nhà bị cáo thu giữ 04 túi nilon ma túy cần sa bị cáo chưa kịp bán.
Người chứng kiến là ông Đinh Văn V, ông Nguyễn Văn T quá trình điều tra có lời khai: ngày 30/12/2023, ông V, ông T chứng kiến Công an kiểm tra hành chính đối với Phạm Tuấn N và Vũ Công T1, chứng kiến công an thu giữ tại túi áo khoác bên trái của N đang mặc một túi Nilon được hàn kín 02 đầu bên trong chưa thực vật khô, N khai đó là ma túy cần sa, N khai là N mua của Lê Văn P tại thôn Đ, xã L, thị xã Q, mục đích để sử dụng. (BL 93-95; 98-99)
Người làm chứng là anh Phạm Tuấn N, quá trình điều tra có lời khai: Lê Văn P là bạn bè quen biết ngoài xã hội, thường xuyên sử dụng ma tuý loại cần sa. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/12/2023 N gọi điện qua mạng xã hội Messenger Facebook hỏi P mua 1.000.000 đồng ma tuý cần sa để sử dụng cho bản thân, P đồng ý hẹn giao dịch tại khu vực cầu N gần nhà P ở thôn Đ, xã L, thị xã Q. Sau đó N rủ anh Vũ Công T1 nói dối đến nhà P chơi. Cả hai đi xe mô tô của anh T1 đến gần nhà P thì N bảo anh T1 ở ngoài chờ còn N đi ra khu vực cầu N mua của P 02 túi cần sa giá 1.000.000 đồng, sau khi mua được N dồn số cần sa mua được vào 01 túi cất giấu trong người, đến khoảng 13 giờ cùng ngày cả hai đi về đến đoạn đường thuộc thôn A, xã H thì bị Công an thị xã Q kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng 01 túi nilon chứa cần sa. (BL 80-82)
Tài liệu có trong hồ sơ ngoài kết luận giám định ma túy, các biên bản lấy lời khai của người chứng kiến, người làm chứng, còn có các tài liệu khác: biên bản kiểm tra 13h30 ngày 30/12/2023 đối với Phạm Tuấn N (bút lục 06, 07); biên bản nhận dạng Lê Văn P, nhận dạng Phạm Tuấn N (BL 43-56); Biên bản khám xét nơi ở của bị cáo (bút lục 14); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục 06; 16); bản ảnh vật chứng (bút lục 18-23); lời khai của người làm chứng Vũ Công T1 (B1 90-91), các tài liệu này đều có nội dung phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS-CP ngày 29/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố Lê Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa kiểm sát viên trình bày luận tội bị cáo với đề nghị kết tội bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 24 tháng 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 30/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; ngoài ra có quan điểm xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê văn P1 khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng Phạm Tuấn N là người mua ma túy của bị cáo, phù hợp lời khai của người làm chứng Vũ Công T1, Đinh Văn V, Nguyễn Văn T là người chứng kiến Công an kiểm tra hành chính đối với Lê Văn P, ngoài ra phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án: kết luận giám định ma túy, biên bản bắt khám xét, biên bản niêm phong vật chứng.
Trên cơ sở các chứng cứ trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận Ngày 30/12/2023 tại thôn Đ, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Lê Văn P đã có hành vi bán trái phép 02 túi ma tuý loại cần sa khối lượng 0,817 gam giá 1.000.000 đồng cho Phạm Tuấn N. Ngoài ra P còn có hành vi tàng trữ 3,632 gam cần sa, mục đích để bán. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tội danh có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Cáo trạng truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm cho người sử dụng phải lệ thuộc vào nó, ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng và là nguồn phát sinh tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Pháp luật Nhà nước ta xử lý nghiêm khắc đối với các tội về ma tuý, mục đích để ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy trong xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý đối với người sử dụng và biết được sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vì lối sống không có trách nhiệm với bản thân với xã hội, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, gây mất trật tự, trị an xã hội, vì vậy cần xử lý cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, đã nộp lại số tiền 1.000.000đồng là do phạm tội mà có, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5] Hội đồng xét xử đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được áp dụng để quyết định hình phạt phù hợp tương xứng.
[6] Về vật chứng: số mẫu vật hoàn lại sau giám định: 4,1 gam ma túy cần sa đựng trong phong bì số 27/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, là vật cấm lưu hành nên tịch thu thiêu hủy;01 lọ nhựa, lắp màu trắng, thu giữ của bị cáo Lê Văn P, không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 1.000.000đồng thu được từ việc bán ma túy cho Ninh ngày 30/12/2023, ngày 23/01/2024, bị cáo nhờ người thân nộp vào Cơ quan thi hành dân sự thị xã Q, theo Biên lai thu tiền số 0003134 ngày 23/4/2024. Số tiền này xác định do bị cáo phạm tội mà có, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Đối với Phạm Tuấn N có hành vi tàng trữ 0,817 gam ma tuý cần sa, nhưng không đủ lượng để truy cứ trách nhiệm hình sự Công an thị xã Q đã ra Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho Lê Văn P, quá trình điều tra không xác định được lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuỷ”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 30/12/2023.
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: số mẫu vật hoàn lại sau giám định: 4,1 gam ma túy cần sa đựng trong phong bì số 27/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 lọ nhựa, lắp màu trắng.
(Hiện trạng toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 51 /BB-THA ngày 01/04/2024 của cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Q).
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003134 ngày 23/4/2024 của Cơ quan chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Lê Văn P phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Minh Ngà |
Bản án số 43/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 43/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Ph phạm tôi mua bán trái phép chất ma túy
