Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 43/2024/DS-ST

Ngày 23-4-2024

V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố,

thuê quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:ông Nguyễn Thanh Liêm;

bà Hoàng Thị Thiện Lai.

- Thư ký phiên tòa: ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn:

Ông Trương Văn Bé H, sinh năm 1975; nơi cư trú: số H, tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1978; nơi cư trú: số H, tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1969; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị S trình bày, ngày 09/01/2011, bà S và vợ chồng ông Bé H, bà D xác lập hợp đồng cố đất trồng lúa diện tích khoảng 03 công, tọa lạc xã B, huyện C, tỉnh An Giang, thời hạn cố đất 01 năm, với giá 25 chỉ vàng 24k/03 công đất theo tờ cố đất ngày 09/01/2011. Ngay sau khi cố đất, bà S không có nhận đất canh tác, đồng thời bà S cho ông Bé H, bà D thuê lại 03 công đất để canh tác trồng lúa, chỉ nói miệng, không xác định thời hạn cho thuê, với giá 4.200.000 đồng/công. Trong 06 năm liên tục, ông Bé H, bà D có trả đầy đủ tiền thuê đất cho bà S. Kể từ năm thứ 07, ông Bé H, bà D không thanh toán tiền thuê đất. Khoảng 02 năm nay, ông Bé H đã chuyển nhượng đất cho người khác nhưng không trả lại 25 chỉ vàng 24k cho bà S.

Vì vậy, bà S yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng 03 công đất giữa bà S với ông Bé H, bà D vào năm 2011. Đồng thời, bà S yêu cầu ông Bé H, bà D trả lại cho bà S 25 chỉ vàng 24k.

Đến ngày 26/12/2023, bà S khởi kiện bổ sung, yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa bà S với ông Bé H, bà D vào năm 2011 và không yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng thuê quyền sử dụng đất bị vô hiệu.

Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị D trình bày, bà D thống nhất, cùng chồng là ông Trương Văn Bé H có cầm cố cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Nguyễn Thị S khoảng 3 công đất, tọa lạc xã B, huyện C, tỉnh An Giang để nhận 2,5 lượng vàng, có lập giấy tay có chữ ký của bà D, ông Bé H và ông S1, bà S nhưng bà D không có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S1, bà S. Phần đất cầm cố do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị Đ (là mẹ của bà D) đứng tên. Bên cạnh đó, bà D thống nhất, cùng ông Bé H thuê lại 03 công đất trên để canh tác, không có lập văn bản, với giá mỗi năm 12.000.000 đồng/3 công.

Sau đó bà Nguyễn Thị Đ chuyển nhượng phần đất cầm cố cho người khác vào khoảng năm 2021. Hiện tại, ông S1, bà S không canh tác phần đất cầm cố và bà D cũng không biết ai đang sử dụng, quản lý phần đất đã cầm cố cho ông S1, bà S.

Vì vậy, bà D chấp nhận vô hiệu hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng 03 công đất giữa bà D, ông Bé H với bà S vào năm 2011 và chấp nhận trả lại cho bà S 25 chỉ vàng 24k, không yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng thuê bị vô hiệu.

Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn S1 trình bày, vào năm 2011, con gái ông S1 là bà Nguyễn Thị S xuất vàng ra nhận cố 03 công đất của ông Trương Văn Bé H, bà Nguyễn Thị D, tọa lạc xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Ngay sau khi nhận cố đất, bên bà S cho ông Bé H, bà D thuê lại đất này được 03 năm thì ông Bé H, bà D bán đất cho người khác. Ông S1 xác định số vàng cố đất 25 chỉ vàng 24k là của bà S, chứ không phải của ông S1 và bản thân ông S1 không có canh tác gì trên đất đó.

Tại phiên tòa, bà S giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung.

Ý kiến của ông S1: số vàng cố đất 25 chỉ vàng 24k có 01 phần của ông S1 cho bà S mượn khoảng 08 chỉ vàng, phần còn lại là của bà S mang đi giao cho bà D, ông Bé H để nhận cố đất. Ông S1 không yêu cầu giải quyết về vấn đề bà S mượn vàng của ông S1 trong vụ án này.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: giao dịch cố đất xảy ra trong dân gian nhưng pháp luật không cho phép người dân tham gia cố đất nên hợp đồng vô hiệu từ thời điểm ký kết, bà S đã giao cho bà D, ông B H nhận 25 chỉ vàng 24k, bà S không nhận đất cố canh tác. Trên cơ sở của giao dịch cố đất, bà S cho bà D, ông Bé H thuê lại đất cũng vô hiệu theo quy định tại Điều 122, Điều 123 Bộ luật dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 122, Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2005, chấp nhận khởi kiện của bà S về yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vô hiệu; chấp nhận yêu cầu của bà S, buộc ông Bé H, bà D phải có trách nhiệm trả lại cho bà S 25 chỉ vàng 24k; bà S và bà D, ông Bé H không yêu cầu giải quyết về hậu quả của giao dịch thuê đất vô hiệu nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định như sau:

[1] Bà S có đơn khởi kiện đối với ông Bé H, bà D về yêu cầu Tòa án vô hiệu hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng và yêu cầu ông Bé H, bà D trả lại sống vàng cố đất 25 chỉ vàng 24k. Ông Bé H, bà D có địa chỉ cư trú tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp “hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà S, ông S1 có mặt; ông Bé H, bà D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bà S và bà D thống nhất có xác lập bằng văn bản về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất khoảng 03 công, theo đó bà D, ông Bé H là bên cố đất, bà S là bên nhận cố đất, thời hạn 01 năm, bà S đã giao cho bà D, ông B H nhận đủ số vàng cố đất 25 chỉ vàng 24k vào ngày 09/01/2011. Đồng thời, bà S không nhận đất cố canh tác mà cho bà D, ông Bé H thuê lại đất đã cố, các bên thống nhất có xác lập hợp đồng thuê đất 03 công bằng lời nói, không xác định thời hạn thuê đất, bà D xác nhận có nhận 03 công đất canh tác từ năm 2011.

[3] Tại thời điểm các bên xác lập hợp đồng cầm cố, cũng như xác lập hợp đồng thuê đất, có đối tượng của hợp đồng đều là 03 công đất, tọa lạc xã B, huyện C, tỉnh An Giang nhưng không thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của bà D, ông Bé H. Theo đó, bà D, ông Bé H không có quyền sử dụng đất đã lấy đất của người khác để cầm cố cho bà S, đồng thời bà S cũng không có quyền sử dụng đất đã lấy đất trên cơ sở hợp đồng cố đất để cho bà D, ông B H thuê đất nên việc xác lập các giao dịch cầm cố, cho thuê quyền sử dụng đất giữa bà S với bà D, ông Bé H đều vi phạm điều kiện chủ thể tham gia giao dịch. Bên cạnh đó, quyền sử dụng đất mà các bên tham gia giao dịch cầm cố thì pháp luật đất đai không ghi nhận cho người sử dụng đất có quyền giao dịch cầm cố theo quy định khoản 1 Điều 106 Luật đất đai năm 2003.

[4] Như vậy, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà D, ông Bé H với bà S, hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất giữa bà S với bà D, ông Bé H đều vi phạm điều kiện về nội dung của giao dịch cho thuê, cầm cố và vi phạm điều cấm của luật đất đai về cầm cố quyền sử dụng đất. Bà S yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng đất là có căn cứ. Theo quy định điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015. Tòa án chấp nhận khởi kiện của bà S về yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng đất 03 công tầm 03 thước, giữa bà S với bà D, ông Bé H vào năm 2011.

[5] Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/02/2024, bà S, ông S1 thống nhất xác định: “hiện trạng khu đất có diện tích chung 27 công, vị trí có 01 phần giáp đất ông V, phần còn lại giáp bờ kênh 8, trong đó có 03 công tầm cắt được bà D, ông Bé H cố cho bà S. Trên đất có 01 phần trồng bắp khoảng 05 công, 01 phần lên vườn trồng sầu riêng khoảng 20 công, còn lại phần trồng lúa hơn 01 công”, bà S, ông S1 cho rằng bà S, ông S1 không có canh tác và các cây trồng trên đất không biết của ai trồng. Bên cạnh đó, tại lời khai của người làm chứng ông Phan Văn T, ông Phan Hữu N, lời khai của bị đơn bà D đều thống nhất xác định phần đất đang cầm cố, cho thuê giữa bà S với bà D, ông Bé H thì bà S không có nhận đất canh tác.

[6] Về số vàng cố đất giao nhận: Tòa án xác định hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vô hiệu, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng kể từ thời điểm xác lập, các bên phải khôi phục lại hiện trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Theo đó, bà S yêu cầu ông Bé H, bà D trả lại 25 chỉ vàng 24k đã giao nhận theo giao dịch cầm cố vô hiệu.

Tại lời khai của bà D xác định “vợ chồng bà D, ông Bé H có nhận 25 chỉ vàng 24k của bà S, ông S1 nhưng đến nay chưa trả lại đầy đủ” phù hợp với tờ cố đất ngày 09/01/2011, tờ biên nhận được ghi phía sau tờ cố đất với nội dung “tôi Trương Văn Bé H cùng vợ Nguyễn Thị D có nhận đủ 25 chỉ vàng 24k”, được ông Trương Văn Bé H xác nhận ký tên, ghi họ tên.

[7] Bên cạnh đó, tại văn bản số 140/UBND ngày 24/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã M xác định: “ông Trương Văn Bé H và bà Nguyễn Thị D có thông tin đăng ký kết hôn theo sổ đăng ký kết hôn số 18, quyền số 01”. Mặt khác, tại lời khai của ông S1 xác định “số vàng cố đất 25 chỉ vàng 24k là của bà S, chứ không phải của ông S1 và bản thân ông S1 không có canh tác gì trên đất đó”, các tình tiết đã được các đương sự thừa nhận, thống nhất nên không ai phải chứng minh gì khác theo quy định khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Như vậy, bà S yêu cầu ông Bé H, bà D trả lại 25 chỉ vàng 24k là có căn cứ. Theo quy định Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận khởi kiện của bà S về yêu cầu ông Bé H, bà D phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà S 25 chỉ vàng 24k; Về diện tích đất cố, cho thuê: các bên thống nhất không có giao nhận đất và không yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng thuê đất vô hiệu nên Tòa án không xem xét.

[8] Về chi phí tố tụng: Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà S nên bà D, ông Bé H phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Bà S đã chi trả chi phí tố tụng nên bà D, ông Bé H phải hoàn lại cho bà S chi phí tố tụng.

[9] Về án phí sơ thẩm: Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà S nên bà D, ông Bé H phải chịu án phí sơ thẩm đối với phần yêu cầu không có giá ngạch về vô hiệu hợp đồng và phần có giá ngạch về trả lại 25 chỉ vàng 24k quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2, 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 106 Luật đất đai năm 2003;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 131, khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2, 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S đối với bị đơn ông Trương Văn Bé H, bà Nguyễn Thị D về hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng đất.

    Tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng đất 03 công, giữa Nguyễn Thị S với ông Trương Văn Bé H, bà Nguyễn Thị D vào ngày 09/01/2011.

  2. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S đối với bị đơn ông Trương Văn Bé H, bà Nguyễn Thị D về yêu cầu xử lý hậu quả hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, buộc ông Trương Văn Bé H, bà Nguyễn Thị D phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà Nguyễn Thị S 25 chỉ vàng 24k.
  3. Về chi phí tố tụng: bà S phải chịu số tiền 500.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp theo danh sách chi ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới. Ông Bé H, bà D phải hoàn trả cho bà S số tiền 500.000 đồng chi phí tố tụng.
  4. Về án phí sơ thẩm: bà S được nhận lại số tiền 4.113.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai số 0014723 ngày 04 tháng 12 năm 2023, số 0014862 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

    Ông Bé H, bà D phải chịu án phí 9.531.000 đồng.

  5. Bà S, ông S1 có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày tuyên án. Ông Bé H, bà D vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Lưu: văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tâm Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 43/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố, thuê quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố đất rồi cho người cố thuê lại đất, không trả vàng khi hết thời hạn cố nhiều năm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger