|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 22/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HOÀ - TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Bào
- Ông Bùi Thế Hanh
- Thư ký phiên toà: bà Vũ Thị Kim Chi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Vi Đăng Khoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXX-HSST ngày 09 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo :
Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1990
NĐKNKTT và chỗ ở: thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Công nhân;
Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Văn Đ1 - sinh năm 1967 và bà Hoàng Thị L - sinh năm 1969;
Vợ: Nguyễn Thị L1 – sinh năm 1999; Con: Bị cáo có 02 con ( Con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021); Gia đình có 02 anh em bị cáo là con thứ nhất.
Cùng địa chỉ: thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
+ Nhân thân, tiền án, tiền sự: không;
*Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị M – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B.
* Người bị hại: Ông Đào Xuân T – sinh năm 1942 (Đã chết)
* Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
- Bà Hà Thị N – sinh năm 1942 (Vắng mặt)
- Bà Đào Thị C – sinh năm 1968 (Vắng mặt);
- Chị Đào Thị H – sinh năm 1982 (Vắng mặt);
- Anh Đào Văn K – sinh năm 1979 (Vắng mặt)
- Anh Đào Văn K1 – sinh năm 1977 (Vắng mặt)
- Chị Đào Thị Đ2 – sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Bà N, bà C, chị H, anh K, anh K, chị Đ2 đều ủy quyền cho anh Đào Văn K1;
*Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại là:
Anh Đào Văn K1 – sinh năm 1977 (Vắng mặt);
Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 16/11/2023, Nguyễn Văn Ð- sinh năm 1990, trú tại thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 đi từ nhà vợ thuộc thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang đến trụ sở Công ty V để làm phụ xe. Khi đi đến đoạn đường tỉnh lộ 295 đoạn thuộc địa phận thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang theo hướng xã V, huyện T đi thị trấn T, huyện H, do không chú ý quan sát biển báo hiệu đường bị hẹp, biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên, không chú ý quan sát người đi bộ sang đường để giảm tốc độ đảm bảo an toàn cho người đi bộ sang đường nên xe mô tô do Đ điều khiển đâm xe vào ông Đào Xuân T- sinh năm 1942 trú tại thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang đang đi bộ sang đường. Hậu quả, ông T tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 16/11/2023 tại đường tỉnh lộ 295 thuộc Km số 51+ 497.92 thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Hiện trường vụ việc là mặt đường nhựa tại vị trí tiếp giáp giữa đường và cầu N, đường cong cua, dốc. Lấy chiều hướng đường từ xã V, huyện T đi thị trấn T, huyện H để xác định bên phải (P), bên trái (T) trong mô tả hiện trường. Lòng đường rộng 11,2m, giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt. Ngoài mép trái đường là cống thoát nước bề rộng 1m, tại vị trí cầu N 2 bên phải và trái đều có đường kênh, phải là kênh chảy đi hướng xã H, huyện H, trái là kênh chảy đi hướng xã L, huyện H. Đường tỉnh 295 theo hướng V, huyện T đi thị trấn T, huyện H khu vực trước khi đến cầu N đường dốc lên. Lấy mép phải làm chuẩn, cột điện 1.14/TT ngoài mép trái làm mốc định vị. Tại hiện trường phát hiện dấu vết ký hiệu trên sơ đồ hiện trường gồm: (1) Xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16; (2) Hệ thống vết cày xước mặt đường; (3) Dấu vết máu màu đỏ sẫm. Hiện trường chi tiết như sau:
Xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 sau khi xảy ra tai nạn được quần chúng nhân dân dựng lên đặt ở trạng thái dựng đứng ngoài mép phải đường vuông góc với mép đường phải. Khoảng cách đo từ tâm trục sau xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 đến mốc định vị hiện trường là 23,9m.
Hệ thống vết cày xước mặt đường có chiều dài 8,15m, chỗ rộng nhất là 0,2m, kích thước vết đơn là 1cm, hệ thống vết cày xước mặt đường có chiều hướng từ V, huyện T đi thị trấn T, huyện H, điểm khởi đầu hệ thống vết cày xước mặt đường nằm ở vị trí mặt đường phần đường bên phải cách mép phải đường và cách mốc định vị lần lượt là 4,15m và 13,3m, điểm cuối hệ thống vết cày xước mặt đường kết thúc tại mặt đường phần đường bên phải và cách mép phải đường 3,6m.
Dấu vết máu màu đỏ sẫm có kích thước (0,2x0,25)m, nằm trên mặt đường sát mép phải đường, khoảng cách đo từ tâm dấu vết đến mép phải đường, đến điểm cuối hệ thống vết cày xước mặt đường và đến mốc định vị lần lượt là 2,7m, 1,4m và 21,4m.
Mở rộng khám nghiệm hiện trường cách vị trí đầu điểm hệ thống vết cày xước mặt đường về phía xã V, huyện T 161m sát mép phải đường có biển báo hiệu số 203a (biển báo hiệu đường bị hẹp). Tại điểm đầu hệ thống vết cày xước mặt đường về phía thị trấn T, H 18m là biển báo hiệu số W207d (giao nhau với đường không ưu tiên) đặt cách mép phải đường và cách 5m về phía thị trấn T so với biển báo W207d tiếp tục có biển báo W203a (biển báo đường bị hẹp) đặt cạnh mép phải đường.
Kết quả khám phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16:
Xe không có gương chiếu hậu hai bên. Mặt trước đầu nắm tay phanh có vết mài mòn kim loại, kích thước 1,2x1cm. Đầu núm tay cầm bên phải có dấu vết mài sát kim loại, kích thước 2x1,8cm phần cao su liền kề bị rách. Mặt trước góc bên phải ốp bảo vệ đèn xi nhan và cụm đèn phía trước bị mài sát nhựa, kích thước 6,5x1,5cm. Mặt ngoài đèn xi nhan phải bị đập vỡ, mài sát nhựa kích thước 7x3cm. Đầu núm tay cầm bên phải bị dập vỡ, mài sát kim loại kích thước tại vị trí chân gương chiếu hậu trái có vết mài sát nhựa, kích thước 8x1cm. Đầu trên cánh yếm trái bị dập vỡ khuyết nhựa trên diện kích thước 27x7cm. Để chân chính bên phải bị đẩy cong hướng từ trước về sau, mặt ngoài ốp cao su có dấu vết mài sát cao su kích thước 3x0,3cm. Mặt ngoài chân phanh có dấu vết mài sát kim loại, kích thước 3x0,3cm. Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả có dấu vết mài sát lún kim loại kích thước 6x5cm. Mặt trước và cạnh dưới để chân chính bên trái có dấu vết mài trượt cao su sạch bụi đất in hằn các đường song song dạng vân vải trên diện 4x2,8cm. Mặt dưới cụm chi tiết cố định ống xả và đầu ống xả có dấu vết mài trượt kim loại sạch bụi đất bền mặt bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu trên diện 12x8,6cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh đèn, xi nhan còn hiệu lực. Tình trạng phương tiện: Xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
Tại bản Kết luận giám định số: 2618/KL- KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
Dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất, in hằn các đường thẳng song song (dạng vân vải) hướng từ trước ra sau ở mặt trước, dưới để chân trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 (ảnh 15 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày có bề mặt là vải sợi (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên. Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 gồm: tay nắm, tay phanh, ốp nhựa đầu xe, chân phanh, để chân trước và ống xả (ảnh số 5,6,7,13 và 14 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng không nhẫn (như mặt đường) tạo nên.
Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 với phương tiện khác. Không xác định được dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 2 là do phương tiện nào để lại trên hiện trường. Không xác định được vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 với ông Đào Xuân T do không trực tiếp nghiên cứu quần áo và các đồ vật nạn nhân mang theo tại thời điểm xảy ra tai nạn. Không xác định được tốc độ xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.
Kết quả khám nghiệm tử thi ông Đào Xuân T:
Vùng đầu: tóc hoa dâm cắt ngắn, hai lỗ tai khô, hai mắt khép, đồng tử hai bên giãn to, hai lỗ mũi và khoang miệng bám dính máu đông và không đông chảy khi đổi tư thế. Vùng ngực được đặt 03 diện cực. Vùng đỉnh thái dương trái có diện sưng nề, bầm tím da kích thước 14x11cm. Mặt trước trong 1/3 cánh tay khửu tay trái có diện sưng nề, bầm tím, sây sát da, kích thước 2x1,5cm. Mặt trong gối trái có diện sưng nề, bầm tím kích thước 8x6cm. Vùng chẩm trái có diện sưng nề, bầm tím, sây sát da kích thước 5x4cm. Mặt ngoài gối trái có vết sây sát da kích thước 0,7x6cm. Mặt sau 1/3 giữa đùi phải có diện bầm tím da kích thước 8x5cm. Mổ tử thi: Phẫu tích tổn thương vùng đỉnh thái dương trái thấu bầm tụ máu, da đầu và tổ chức dưới da đầu, đường nứt vỡ xương hộp sọ phần đo được 2,5cm qua đó có máu không đông chảy ra.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 2421/KLGĐTT- KTHS ngày 12/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận:
Nguyên nhân chết của ông Đào Xuân T do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh- thái dương trái. Cơ chế hình thành dấu vết, thương tích: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên; Tổn thương vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh- thái dương trái do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.
Ngày 16/11/2023, Cơ quan điều tra tiến hành rà soát camera xung quanh khu vực hiện trường, thu giữ đoạn video chứa nội dung liên quan đến vụ việc từ dữ liệu camera tại cửa nhà chị Tạ Thị N1- sinh năm 1996, địa chỉ thôn N, xã N, huyện H. Tại Kết luận giám định số 2600/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định. Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn Đ xem nội dung video xác định đúng diễn biến vụ tai nạn giao thông xảy ra.
Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 826.16 không chú ý quan sát các biển báo hiệu nguy hiểm đường bị hẹp, biển nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên và người đang đi bộ đang sang đường để giảm tốc độ đảm bảo an toàn, nhường đường cho người đi bộ sang đường. Vi phạm vào khoản 4, Điều 11 Luật Giao thông đường bộ và vi phạm khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đại t 14 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 32 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: không xem xét giải quyết;
Về vật chứng: không xem xét giải quyết;
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136, 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H,Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về không gian, thời gian xảy ra vụ án. Điều đó có đủ căn cứ để kết luận bản Cáo trạng số: 42/CT – VKSHH ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội không oan.
[3] Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/11/2023, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô BKS 98D1 – 826.16 để đi làm. Do bị cáo thiếu quan sát khi trên đường có các biển báo đường bị hẹp, đường nguy hiểm giao nhau nên đã đâm xe vào ông Đào Xuân T đang sang đường ông T và Đ đều ngã ra đường, hậu quả của là ông T bị chết. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông T là do bị chấn thương sọ não; Vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh – Thái dương trái do tiếp xúc với vật tày, lực tác động tạo lên. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra và trưng cầu giám định, xác định hiện trường và xác định nguyên nhân gây nên cái chết của ông T theo đúng trình tự. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Văn Đ bị VKSND huyện Hiệp Hòa truy tố về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" là có căn cứ. Người bào chữa cho bị cáo Đ – bà Nguyễn Thị M tại phiên tòa cũng xác nhận một phần lỗi của bị cáo Đ và đề nghị HĐXX xem xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình của bị cáo là khó khăn. Bị cáo là lao động chính vì bị cáo có con nhỏ bị bệnh tim bẩm sinh, vợ bị cáo không đi làm được vì phải chăm sóc con. Bà M đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức án từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
[4] Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ là nguy hiểm bị cáo tham gia giao thông nhưng thiếu quan sát biển báo hiệu trên đường nên khi điều khiển xe mô tô đã đâm vào ông T làm ông T chết thì cần phải được xử lý nghiêm là có căn cứ. Tuy nhiên, hậu quả của việc thiếu quan sát cũng xuất phát cả từ phía ông T vì ông T cũng không quan sát trên đường xe của Đ đang đi đến mà sang đường khi chưa đủ điều kiện an tòan. Hơn nữa, tại hiện trường thì chỗ ông T sang đường không có vạch ưu tiên cho người đi bộ nên khi ông T sang đường về mặt an toàn là chưa đủ nhưng ông T vẫn sang đường là một trong những nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn. Với tình tiết của vụ án và đối chiếu với các quy định của pháp luật thì có đủ cơ sở để xác định bị cáo Đ và ông T đều chưa tuân thủ về khoảng cách an toàn và điều kiện an toàn để thực hiện việc tham gia giao thông của mình nên cả hai đều có lỗi. Vì thế, khi đánh giá lỗi của Nguyễn Văn Đ cần có sự khoan hồng để có mức phạt thích đáng cho bị cáo là có căn cứ. Bị cáo hiện đang là công nhân, tuổi đời còn trẻ việc gây tai nạn cho ông T là ngoài mong muốn của bị cáo. Bị cáo trong quá trình sinh hoạt tại địa phương cũng như nơi làm việc bị cáo được xác định là có nhân thân tốt và bị cáo cũng có nơi cư trú rõ ràng nên việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo có ấn định thời gia thử thách là có căn cứ.
[5] Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, HĐXX thấy là tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, HĐXX cần phân tích đánh giá như sau:
Xét Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt;
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ là điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật là anh Đào Văn K1 có văn bản xác nhận bị cáo Đ đã bồi thường cho gia đình anh số tiền là 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng) và anh không đề nghị bị cáo Đ phải bồi thường cho gia đình anh bất cứ khoản tiền nào nữa. HĐXX xét thấy đây là sự tự nguyện của anh K1 nên HĐXX không xem xét giải quyết là có căn cứ.
[7] Về vật chứng:
- Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra trả lại cho bị cáo và đến nay bị cáo không khiếu nại hay yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không xem xét là có căn cứ.
[8]Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 cuả Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu 200.000đ án phí HSST. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 năm 02 tháng tù về tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 04 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cứ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 cuả Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí HSST cho bị cáo Đ.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đại diện theo ủy quyền của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hương Lan |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HOÀ - TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HOÀ - TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BAHS
