Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH THƯỢNG

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/DS-ST

Ngày: 18/8/2023.

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Hoàng Hổ

Ông Huỳnh Phước Tỷ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng tham gia phiên toà:

Không tham gia.

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2023/TLST-DS, ngày 24 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-DS, ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐST-DS, ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Hộ kinh doanh T1

Đại diện hộ kinh doanh: Bà Bùi Thúy D, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Địa điểm kinh doanh: Tổ 12 ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Kiên Giang. (bà D – có mặt)

2/ Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1965 (có mặt)

Bà Nguyễn Thị Ả, sinh năm 1971 (vợ ông T)

Anh Phạm Công D1, sinh năm 1993 (con ông T)

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang. (bà Ả và anh D1 – vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2023 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn bà Bùi Thúy D (sau đây gọi tắt là bà D) trình bày:

Ngày 16/12/2018 hộ gia đình ông Phạm Văn T (sau đây gọi tắt là ông T), bà Nguyễn Thị Ả (sau đây gọi tắt là bà Ả) và anh Phạm Công D1 (sau đây gọi tắt là anh D1) có mua vật tư thuỷ sản, thức ăn tôm tại cửa hàng T2 do bà Bùi Thúy D làm đại diện, hai bên không có ký hợp đồng mua bán đến ngày 08/12/2022 hai bên ký xác nhận công nợ do bà Ả ký còn nợ cửa hàng T2 số tiền nợ gốc là 61.137.000 đồng nhưng từ khi ký xác nhận công nợ đến nay ông T, bà Ả và anh D1 không thanh toán cho cửa hàng.

Nay bà D yêu cầu ông T, bà Ả và anh D1 liên đới trả số tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản số tiền gốc là 61.137.000 đồng và lãi suất 10%/năm kể từ ngày 08/12/2022 cho đến khi ông T, bà Ả và anh D1 trả xong các khoản nợ.

2. Bị đơn ông Phạm Văn T trình bày:

Ông T thừa nhận và đồng ý cùng bà Ả, anh D1 trả cho cửa hàng T2 do bà Bùi Thúy D làm đại diện số tiền nợ mua thức ăn tôm và thuốc thuỷ sản là 61.137.000 đồng, nhưng ông T cho rằng hoàn cảnh kinh tế đang gặp khó khăn nên xin trả làm 02 lần, lần 01 vào ngày 20/12/2023 al trả 30.000.000 đồng, lần 02 vào tháng 3 năm 2024 âm lịch trả 30.000.000 đồng và xin được miễn lãi suất.

3. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ả và anh Phạm Công D1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên không có lời trình bày.

4. Tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm có:

Bảng đối chiếu công nợ ngày 08/12/2022; Danh sách mua thức ăn và thuốc thủy sản từ ngày 16/12/2018 đến ngày 08/12/2022; Biên bản làm việc ngày 14/9/2022, Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh (bản sao), bản tự khai của ông Phạm Văn T.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn Hộ kinh doanh Tân Quang M do bà Bùi Thúy D làm đại diện yêu cầu ông T, bà Ả và anh D1 liên đới trả số tiền nợ gốc 61.137.000 đồng, bà D rút yêu cầu tính lãi suất.

Ông T đồng ý cùng bà Ả và anh D1 trả cho H kinh doanh Tân Quang M do bà Bùi Thúy D làm đại diện số tiền nợ gốc là 61.137.000 đồng trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày 18/8/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ả và anh Phạm Công D1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng bà Ả và anh D1 vắng mặt không có lý do. Các bị đơn cũng không có yêu cầu phản tố. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà Ả và anh D1.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả số tiền mua bán thuốc và thức ăn tôm số tiền gốc là 61.137.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời trình bày của nguyên đơn được bị đơn ông T thừa nhận và phù hợp với Biên bản xác nhận công nợ ngày 08/12/2022 bị đơn bà Ả ký xác nhận còn nợ cửa hàng T2 do bà Bùi Thúy D làm đại diện số tiền 61.137.000 đồng. Sau khi ký xác nhận công nợ ông T, bà Á và anh D1 không thực hiện việc trả nợ là vi phạm quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015 nên việc bà D khởi kiện yêu cầu ông T, bà Ả và anh D1 trả số tiền 61.137.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3]. Về lãi suất: Tại phiên toà nguyên đơn rút yêu cầu tính lãi suất đối với bị đơn ông T, bà Ả và anh D1. HĐXX đình chỉ xét xử phần yêu cầu tính lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4]. Về thời hạn trả nợ: Bị đơn ông T yêu cầu trả số tiền gốc 61.137.000 đồng cho H kinh doanh Tân Quang M do bà Bùi Thúy D làm đại diện trong thời hạn 02 tháng nhưng phía nguyên đơn bà D không đồng ý nên HĐXX không có cơ sở ghi nhận.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị Ả và anh Phạm Công D1 phải liên đới chịu tiền án phí là 61.137.000 đồng x 5% = 3.056.000 đồng.

Hoàn trả cho bà Bùi Thúy D là chủ hộ kinh doanh Tân Quang M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.570.000 đồng tại biên lai thu số 0005885 ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 440 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hộ kinh doanh Tân Quang M do bà Bùi Thúy D làm đại diện đối với bị đơn ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị Ả và anh Phạm Công D1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán.
  2. Buộc ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị Ả và anh Phạm Công D1 liên đới trả cho H kinh doanh Tân Quang M do bà Bùi Thúy D làm đại diện số tiền gốc là 61.137.000 đồng (sáu mươi mốt triệu một trăm ba mươi bảy nghìn đồng)
  3. Kể từ khi bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị Ả và anh Phạm Công D1 phải liên đới chịu tiền án phí là 3.056.000 đồng (ba triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
  5. Hoàn trả cho bà Bùi Thúy D là chủ hộ kinh doanh Tân Quang M (địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.570.000 đồng (một triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng) tại biên lai thu số 0005885 ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng.

  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh KG;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện UMT;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện UMT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Loan

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2023/DS-ST ngày 18/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 43/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ mua bán giữa HKD và T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger