|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 20/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Thịnh
- Ông Ninh Nông Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Ma Thế Thiện – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 30/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 09/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Quốc Đ (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 23/02/1994 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn H và bà Hứa Thị T; Có vợ là Mã Thị X và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.
* Bị hại:
- - Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990;
- - Anh Phùng Văn T1, sinh năm 1989;
- Cùng địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp nhận tố giác về tội phạm của chị Nguyễn Thị N do Công an xã N, huyện B chuyển đến với nội dung: Ngày 06/6/2024 chị Nguyễn Thị N bị mất trộm 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát (BKS) 97B1-577.21 màu đen, bạc để tại ven đường thuộc thôn P, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Sau khi phát hiện bị mất trộm chị N đã trình báo công an xã K và giao nộp 01 (Một) Giấy đăng ký xe tên Nguyễn Thị N để chứng minh quyền sở hữu. Sau khi nhận được tin báo, Công an xã K đã phối hợp với công an xã N thực hiện tuần tra, rà soát thì phát hiện Nông Quốc Đ, sinh ngày 23/02/1994, trú tại thôn L, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đang điều khiển chiếc xe bị mất trộm tại khu vực thôn Bản Nản, xã K nên đã tiến hành lập biên bản sự việc, tạm giữ chiếc xe mô tô và chuyển hồ sơ đến cơ quan cảnh sát điều tra huyện B để điều tra, xử lý theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Nông Quốc Đ khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 06/6/2024 Đ đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết từ nhà ở thôn L, xã Q đến thôn L, xã Q chơi, sau đó đi bộ đến thôn P, xã N để xem mọi người đánh bắt cá ở sông. Tại đây, Đ phát hiện 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, bạc gắn BKS 97B1-577.21 dựng ở cạnh đường có chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa. Không thấy có ai xung quanh trông giữ xe, Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp nên đã mở khóa xe và điều khiển chiếc xe mô tô này đi về nhà. Trên đường về khi Đ đang dừng lại đổ xăng ở cây xăng thuộc thôn Bản Nản, xã K, huyện B thì bị Cơ quan công an phát hiện và bắt giữ. Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, bạc gắn BKS 97B1-577.21 và 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 020660 tên Nguyễn Thị N.
Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, bạc gắn BKS 97B1-577.21 có giá trị tại thời điểm định giá là 5.114.120đ (Năm triệu một trăm mười bốn nghìn một trăm hai mươi đồng).
Quá trình điều tra còn xác định được bị cáo Nông Quốc Đ là lao động tự do, không có công việc, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo; bản thân và gia đình không thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng.
Tại cáo trạng số 41/CT-VKSBB ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Nông Quốc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173/BLHS 2015.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
- - Người bị hại Nguyễn Thị N trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, bạc gắn BKS 97B1-577.21 có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 020660 tên Nguyễn Thị N là tài sản chung của vợ chồng chị Nguyễn Thị N và anh Phùng Văn T1. Quá trình điều tra, anh chị đã chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp của mình nên được cơ quan Công an trả lại, chị N đại diện nhận lại chiếc xe theo quy định. Do đó chị N, anh T1 không có ý kiến gì về việc đề nghị trả lại tài sản, đồng thời cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự do anh chị không bị thiệt hại gì về tài sản.
Về trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, chị N có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt và trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa chị N giữ nguyên nội dung này.
Người bị hại anh Phùng Văn T1 có mặt tại phiên tòa: Nhất trí với toàn bộ lời khai, yêu cầu, đề nghị của chị Nguyễn Thị N trong quá trình tham gia tố tụng và đối với việc giải quyết vụ án, không có ý kiến bổ sung gì.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn duy trì quyền công tố tại phiên tòa: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nông Quốc Đ về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
- + Tuyên bố bị cáo Nông Quốc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65/BLHS. Xử phạt bị cáo Nông Quốc Đ từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- + Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét giải quyết.
- + Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm .
- Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Việc khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo Nông Quốc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nông Quốc Đ 06 tháng tù cho hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng số 41/CT-VKSBB ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, nhất trí với phần trình bày của người bào chữa, không tự bào chữa, không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do người bào chữa và bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị mất và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:
Ngày 06/6/2024 tại thôn P, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Nông Quốc Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, bạc gắn BKS 97B1-577.21 của chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Chiếc xe mô tô bị trộm cắp trị giá 5.114.120đ (Năm triệu một trăm mười bốn nghìn một trăm hai mươi đồng). Mục đích bị cáo lấy trộm chiếc xe là để bán lấy tiền trả nợ. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Nông Quốc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tội phạm Nông Quốc Đ thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, tuy nhiên cũng gây ảnh hưởng xấu đến việc đảm bảo an ninh trật tự cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Bị cáo có nhân thân tốt, trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này thì chưa có tiền án, tiền sự. Trong các giai đoạn tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại chị Nguyễn Thị N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về hình phạt chính: Bị cáo có nhân thân tốt, trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có 02 (Hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B và người bào chữa đề nghị là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự
Bị hại không đề nghị xem xét trách nhiệm bồi thường dân sự đối với bị cáo. Do đó, HĐXX không xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
[7] Về vật chứng:
Gồm có: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, bạc gắn BKS 97B1-577.21, 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 020660 tên Nguyễn Thị N là tài sản chung của vợ chồng chị Nguyễn Thị N và anh Phùng Văn T1. Quá trình điều tra, anh chị đã chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp của mình nên được cơ quan Công an trả lại, chị N đại diện nhận lại chiếc xe theo quy định, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp.
[8] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân và người bào chữa:
Xét thấy quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, ý kiến của các bị hại và đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần chấp nhận miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Quốc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Quốc Đ 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nông Quốc Đ cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Linh |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 06/6/2024 tại thôn Pác Ngòi, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Nông Quốc Đức đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, bạc gắn BKS 97B1-577.21 của chị Nguyễn Thị Ngoan, sinh năm 1990, trú tại thôn Nà Mằm, xã Khang Ninh, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Chiếc xe mô tô bị trộm cắp trị giá 5.114.120đ (Năm triệu một trăm mười bốn nghìn một trăm hai mươi đồng). Mục đích bị cáo lấy trộm chiếc xe là để bán lấy tiền trả nợ. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
