|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-8-2024
V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân và ông Mạc Văn Mùa.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 20/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2024, về việc: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 45/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/7/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 01/2024/TB-TA ngày 09/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 2001, vắng mặt.
Nơi thường trú: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Xóm A, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Phạm Khắc Q, sinh năm 1996, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị A, bị đơn anh Q trình bày: Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 16/12/2019 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp tính nết. Từ tháng 4/2024 hai bên sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị A, anh Q đều xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị A đề nghị được ly hôn anh Q, anh Q đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị A, anh Q có một con là Phạm Thùy D, sinh ngày 05/01/2020, hiện tại anh Q nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị A, anh Q đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con, không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
Về tài sản, nợ, công sức: Chị A, anh Q xác định vợ chồng không có tài sản; không nợ và không cho ai vay tài sản; không có tài sản, công sức đóng góp cho gia đình hai bên. Khi ly hôn, không yêu cầu giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai bà N (mẹ anh Q) trình bày: Quá trình chung sống anh Q, chị A có xảy ra mâu thuẫn; đến nay đã trầm trọng; gia đình đã động viên, khuyên bảo nhưng không thành; đã sống ly thân. Nay các bên đương sự ly hôn, bà N đề nghị giải quyết theo pháp luật. Nếu các bên đương sự ly hôn, bà N đề nghị giao cháu D cho anh Q nuôi dưỡng. Gia đình bà tiếp tục hỗ trợ anh Q trong việc nuôi dưỡng cháu D.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Xử, chị A ly hôn anh Q; giao con chung cho anh Q nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của anh Q không yêu cầu chị A cấp dưỡng tiền nuôi con; chị A phải chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định.
[1]. Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng.
[2]. Về hôn nhân: Chị A, anh Q kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 16/12/2019, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nết. Theo chính quyền địa phương, người thân trong gia đình của đương sự xác định mâu thuẫn giữa các bên đương sự đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý ly hôn. Như vậy, từ những căn cứ như đã nêu ở trên, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa hai bên đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử chị A được ly hôn anh Q.
[3]. Về con chung: Xác định chị A, anh Q có một con chung là Phạm Thùy D, sinh ngày 05/01/2020, hiện tại do anh Q nuôi dưỡng. Khi ly hôn, hai bên đương sự đều có nguyện vọng nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau. Sau khi xem xét quan điểm của đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX thấy rằng: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của con.
Đánh giá điều kiện nuôi con của anh Q thì thấy: Từ khi hai bên đương sự sống ly thân (tháng 4/2024), cháu D do anh Q nuôi dưỡng. Khi nuôi dưỡng con chung, anh Q không vi phạm các điều kiện nuôi dưỡng. Anh Q đã chứng minh về điều kiện thu nhập, chỗ ở, việc học tập, giáo dục để nuôi dưỡng con cho Tòa án. Chính quyền địa phương nơi anh Q cư trú xác định anh Q có đầy đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; ngoài ra HĐXX thấy rằng cháu D đang học tập, sinh sống ổn định cùng với gia đình anh Q tại xã T, nên có căn cứ giao cháu D cho anh Q nuôi dưỡng như theo quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do anh Q không yêu cầu chị A cấp dưỡng tiền nuôi con, nên HĐXX không đặt ra để giải quyết. Đối với chị A có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu D, nhưng không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh về thu nhập, chỗ ở, việc học tập của cháu D và các điều kiện khác nếu được nuôi dưỡng con chung; mặt khác chị A còn xác định sau khi ly hôn, sẽ làm các thủ tục đi làm việc tại Trung Quốc. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị A về việc đề nghị được nuôi dưỡng con chung.
[4]. Về tài sản, nợ, công sức: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lan A phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 147, 227, 228, 229, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lan A ly hôn anh Phạm Khắc Q.
- Về con chung: Giao con Phạm Thùy D, sinh ngày 05/01/2020 cho anh Phạm Khắc Q tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Q tự nguyện không yêu cầu chị Nguyễn Thị Lan A phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Chị A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23, số 0001108, ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Lan Anh xin ly hôn Phạm Khắc Quang
