Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST

Ngày 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cầm Thị Đoa và bà Hoàng Thị Hội.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện M.

- Người tiến hành tố tụng:

Kiểm sát viên: Ông Hoàng Văn N.

Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thùy L.

- Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Đặng Nam Đ và ông Phạm Trung H.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với:

Tráng L, sinh ngày: 01/01/1959 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tráng Láo L1 và bà Lầu Thị P (đều đã chết); bị cáo có vợ là Vàng Thị N1 (đã chết) và 06 con (đã chết 03 con);

Tiền án:

  • - Tại bản án số 49/2018/HSST ngày 03/01/2018 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Tại bản án số 213/2021/HSST ngày 18/8/2021 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2023 đến nay; tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 50 phút ngày 14/10/2023, tổ công tác Công an xã L, huyện M làm nhiệm vụ bản Pha Nhên, xã L, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Tráng Láo D đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hiện Tráng Láo D đang cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là H1. Tráng Láo D khai nhận đó là ma túy của D cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Tráng Láo D, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Tráng Láo D bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.

Ngày 14/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định khối lượng cục chất bột màu trắng thu giữ của Tráng Láo Di được 0,18 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu D.

Tại Kết luận giám định số 2449 ngày 17/10/2023 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu D gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”

Quá trình điều tra Tráng Láo D khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 8 giờ ngày 14/10/2023, D đi từ nhà đến khu vực biên giới Việt Nam - Lào thuộc bản P, xã L, huyện M mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến nới, D gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu gói ma túy trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về. Trên đường đi về gặp tổ công tác Công an xã L, huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Tại phiên tòa bị cáo Tráng Láo D trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Cáo trạng số 229/CT-VKS ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can T Láo Di về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tráng Láo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  1. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo T Láo Di từ 05 năm đến 06 năm tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Tráng Láo D bắt ngày 14/10/2023 (01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly + phong bì niêm phong ban đầu); 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy của Tráng Láo D.

  3. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Tráng Láo D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã Lóng Sập thu giữ của bị cáo vào ngày 14/10/2023 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông với giá 50.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã L lập vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 14/10/2023; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 2449 ngày 17/10/2023 của phòng K Công an tỉnh S kết luận:“Mẫu ký hiệu D gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo T Láo Di là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy, bị cáo đã có 02 tiền án, đã phạm tội thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích về tội Tàng trữ trái pháp chất ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 14/10/2023 bị cáo Tráng Láo D đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,18 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[3]Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Bị cáo có bố đẻ là ông Tráng A L2 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá án tích về tội cùng loại. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Tráng Láo D bắt ngày 14/10/2023 (01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly + phong bì niêm phong ban đầu); 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy của Tráng Láo D. Xét thấy là vật không có giá trị sử dụng, áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Tài liệu hồ sơ xác định bị cáo là người già, người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biết khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí, do đó cần xem xét miễn án phí cho bị cáo.

[7]Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Tráng Láo D tại khu vực biên giới Việt Nam - Lào thuộc bản P, xã L, huyện M. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam của bị cáo T Láo Di còn dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Tráng L3 Di phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Tráng L3 Di 05 (Năm) năm, 06 (Sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14/10/2023.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ Tráng Láo D bắt ngày 14/10/2023 (01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly + phong bì niêm phong ban đầu); 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy của Tráng L3 Di

  3. Về án phí : Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Tráng L3 Di được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mộc Châu;
  • - Công an huyện Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Tăng Thị Hải Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 43/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tráng Láo D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger