Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

TP. CẦN THƠ

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 43/2024/DS-ST

Ngày: 19-7-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hồng Lưu
  2. Bà Lê Thị Xuân Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Quốc Phú - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2023/TLST- DS ngày 17 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K.
  2. Địa chỉ: Số D, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

    Người đại diện của nguyên đơn: Ông Võ Minh S, sinh năm 1988. Chức vụ: chuyên viên xử lý nợ - Là người đại diện theo ủy quyền - Văn bản ủy quyền số 334/QĐ-NHKL ngày 22/01/2024

  3. Bị đơn:
  4. 2.1 Ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1960 “có mặt”

    2.2 Bà Nguyễn Thiện Diệu H, sinh năm 1965 “vắng mặt”

    Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, TP .

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  6. Ông Nguyễn Văn P sinh năm 1966 “có mặt”

    Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 22/02/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Năm 2020, Ngân hàng TMCP K với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thiện Diệu H ký kết Hợp đồng tín dụng số 764/20/HĐTD/0403-8169 ngày 05/8/2020. Theo đó, Ngân hàng cho vợ chồng ông Đ vay số tiền 150.000.000đồng, mục đích vay bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay 12,9%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả 10%/năm.

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, vợ chồng ông Đ ký hợp đồng thế chấp số 764/20/HĐTC-BĐS/0403-8169 ngày 05/8/2020 thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 13, diện tích 769m² (trong đó, đất ONT 300m² và 469m² đất CLN), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01918 cấp ngày 24/10/2018 do ông Nguyễn Văn Đ đứng tên.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, vợ chồng ông Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán, khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Đ phải trả cho Ngân hàng số tiền 254.831.089đồng, trong đó, nợ gốc 150.000.000đồng, tiền lãi 104.831.089đồng, lãi tính đến ngày 19/7/2024 và lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán tất nợ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P trình bày: Trên thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 13, diện tích 769m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01918 cấp ngày 24/10/2018 do ông Nguyễn Văn Đ đứng tên đang thế chấp cho ngân hàng, có tồn tại căn nhà của ông trên đó. Nguồn gốc phần đất này trước đây là của ông bà để lại, gia đình ông sử dụng trên 70 năm, trước đây do mẹ ông sử dụng, sau khi qua đời để lại cho ông. Phần đất có căn nhà ông đang sử dụng diện tích 88,1m² (41m² đất ONT và 47.1m² đất CLN). Thời điểm bà Nguyễn Thị B (mẹ ruột ông Đ) còn sống kê khai đăng ký quyền sử dụng đất trong đó có phần đất của ông đang sử dụng. Sau khi phát hiện sự việc, ông và ông Đ lập giấy thỏa thuận ngày 11/6/2020 ông Đ tách thửa cho ông phần đất ông đang sử dụng ông trả cho ông Đ chi phí là 80.000.000đồng, ông Đ nhận trước 40.000.000đồng, sau khi hoàn tất thủ tục thì giao số tiền còn lại. Tuy nhiên sau khi nhận tiền, ông Đ không thực hiện đúng thỏa thuận mà mang giấy tờ thế chấp ngân hàng. Nay ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp thửa đất số 1101, trong đó có căn nhà ông đang sử dụng ông không đồng ý.

Ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thiện Diệu H được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Vụ kiện không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Người đại diện của Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông Đ phải trả cho ngân hàng số tiền 254.831.089đồng, trong đó, nợ gốc 150.000.000đồng, tiền lãi 104.831.089đồng, lãi tính đến ngày 19/7/2024 và lãi phát sinh cho theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán tất nợ. Trường hợp, vợ chồng ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Bị đơn ông Đ đồng ý trả cho ngân hàng số tiền 254.831.089đồng, trường hợp không trả được nợ thì đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để thu hội nợ.

Ông P đồng ý với yêu cầu của ngân hàng, trường hợp phát mãi tài sản thế chấp thửa đất số 1101 để thu hồi nợ thì ưu tiên cho ông cho ông mua lại phần đất ông đang sử dụng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua phân tích đánh giá chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng. Buộc ông Đ và bà H phải trả cho ngân hàng số tiền 254.831.089đồng (bao gồm vốn và lãi) và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán tất nợ. Trường hợp, ông Đ và bà H không thanh toán nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ và dành quyền ưu tiên cho ông P được mua lại phần đất ông đang sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Đ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Do đó, tranh chấp trên được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Về việc tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thiện Diệu H là bị đơn, không có yêu cầu phản tố được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tiền vốn vay: Vợ chồng ông Đ vay của Ngân hàng số tiền gốc 150.000.000đồng theo Hợp đồng tín dụng số 764/20/HĐTD/0403-8169 ngày 05/8/2020. Quá trình vay, vợ chồng ông Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông Đ phải trả tiền vốn gốc chưa thanh toán với số tiền 150.000.000đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.

[2.2] Về tiền lãi: Theo thỏa thuận trong hợp đồng, lãi suất cho vay là 12,9%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, lãi chậm trả bằng 10%/năm. Xét thấy, lãi suất cho vay thỏa thuận trong hợp đồng tại thời điểm vay phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Quá trình vay, vợ chồng ông Đ chỉ thanh toán được 01 kỳ tiền lãi với số tiền là 4.877.260 lãi trong hạn và 41.423đồng tiền phạt chậm trả lãi. Tính đến ngày 19/7/2024 vợ chồng ông Đ còn nợ tiền lại với số tiền 104.831.089 đồng (đính kèm bản kê chiết tính của ngân hàng cung cấp). Do đó, buộc vợ chồng ông Đ phải trả cho Ngân hàng số tiền lãi chưa thanh toán là có căn cứ.

[2.3] Về tài sản thế chấp: Theo hợp đồng thế chấp 764/20/HĐTC-BĐS/0403-8169 ngày 05/8/2020, vợ chồng ông Đ thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 13, diện tích 769m² (trong đó, đất ONT 300m² và 469m² đất CLN), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01918 cấp ngày 24/10/2018 do ông Nguyễn Văn Đ đứng tên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng. Do đó, trường hợp vợ chồng ông Đ không trả được nợ thì ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ. Tuy nhiên, quá trình thế chấp tài sản đảm bảo có tồn tại căn nhà của ông Nguyễn Văn P nhưng ngân hàng chỉ nhận thế chấp quyền sử dụng đất mà không ghi nhận cụ thể tài sản của người thứ 3 tồn tại trên đất. Do đó, khi phát mãi tài sản thế chấp nếu ông P có nhu cầu nhận chuyển nhượng thì dành quyền ưu tiên cho ông P được mua lại phần đất ông P đang sử dụng.

[3] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thiện Diệu H phải nộp 8.000.000đồng, ngân hàng đã nộp tạm ứng và chi xong nên buộc ông Đ và bà hạnh phải nộp để trả lại cho ngân hàng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Đ phải nộp án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải trả cho ngân hàng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Tuy nhiên, ông Đ là người trên 60 tuổi nên được miễn phần án phí đối với nghĩa vụ của ông theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Án lệ số 11/2017/AL ngày 14/12/2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc đòi nợ đối với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thiện Diệu H
  2. Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thiện Diệu H phải trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 254.831.089đồng. Trong đó, vốn gốc là 150.000.000đồng, tiền lãi 104.831.089đồng, lãi tính đến ngày 19/7/2024.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 20/7/2024, vợ chồng ông Đ còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán tất nợ.

    Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Nếu ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thiện Diệu H không trả được nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 764/20/HĐTD-BĐS/0403-8169 ngày 05/8/2020 để thu hồi nợ.

    Dành quyền ưu tiên cho ông Nguyễn Văn P được mua lại phần đất ông P đang sử dụng theo Hợp đồng thế chấp nêu trên (nếu ông P có nhu cầu nhận chuyển nhượng).

  3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thiện Diệu H phải nộp 8.000.000đồng để trả lại cho ngân hàng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  5. Ông Nguyễn Văn Đ được miễn án phí. Bà Nguyễn Thiện Diệu H phải nộp 6.370.000đồng.

    Ngân hàng TMCP K được nhận lại 5.231.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009804 ngày 17 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Án xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn, có mặt bị đơn ông Đ, vắng mặt bà H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông P có mặt.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, được sửa đổi, bổ sung Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKS nhân dân huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Cờ Đỏ;
  • - Lưu VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Minh Viễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 43/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng K dòi nợ ông Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger