Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 18 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hải, giáo viên trường trung học sở xã Cao Xá, huyện Tân Yên.

2. Bà Phan Thị Hoa, chuyên viên phòng giáo dục huyện Tân Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 5 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Tuấn A, sinh ngày 20/12/2007 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; con ông Hoàng Văn T và bà Công Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có, bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/4/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Tuấn A: Bà Công Thị N, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Tuấn A: Bà Lê Thị Ngọc L, Luật sư của Văn phòng luật sư Lê L và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Tuấn A: Ông Nguyễn Văn P, Trợ giúp viên Trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B; địa chỉ: Số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

- Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã L: Bà Phùng Thị D, uỷ quyền cho ông Dương Thành C, Phó Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, theo giấy uỷ quyền ngày 17 tháng 6 năm 2024, ông C có mặt.

2

- Bị hại:

+ Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1966, vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

+ Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1961, vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1972, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đỗ Văn T4, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1996, vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2005, vắng mặt.

+ bà Phạm Thị H1, sinh năm 1982, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 24/3/2024 đến ngày 13/4/2024, Hoàng Tuấn A thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã L và địa bàn xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 24/3/2024, Hoàng Tuấn A cùng Hoàng Tiến Đ, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T5 đi hội chùa B ở huyện V, sau đó Tuấn A và Đ vào nhà H và Tân chơi. Đến khoảng 17 giờ 00 phút thì Đ ra về, Tuấn A nhờ Đ đưa về nhà. Khoảng 17 giờ 10 phút khi Đ chở Tuấn A đến bờ đê thuộc thôn C, xã L, huyện T, Tuấn A quan sát có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển kiểm soát 98H1- 403.35 để ở sân, không có cổng, không có tường bao xung quanh nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Khi Đ chở đến Cầu C, xã L, huyện T, Tuấn A bảo Đ đi về trước, còn Tuấn A xuống xe đi bộ ra nhà văn hóa thôn Đ, xã L, huyện T để đợi đến khi trời tối quay lại trộm cắp xe mô tô. Đến khoảng 19 giờ 00 phút, Tuấn A đi bộ quay lại, quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 98H1- 403.35 vẫn để ở sân nhà ông Nguyễn Văn N1, đi ra phía đầu hồi quan sát xung quanh, thấy không có ai, đi vào sân thấy chìa khóa xe mô tô vẫn cắm ở ổ khóa điện, Tuấn A dắt chiếc xe mô tô ra cổng, mở chìa khóa điện nổ máy thì hệ thống cảnh báo của xe phát ra tín hiệu báo động, ông N1 ở trong nhà nghe thấy tiếng báo động phát ra từ xe mô tô đã chạy đuổi và truy hô “Trộm, trộm”. Biết bị chủ nhà phát hiện đuổi theo, Tuấn A dắt xe bỏ chạy theo hướng xã L đi xã P, khi dắt ra cách cổng nhà ông N1 khoảng 20m thì đẩy xe mô tô xuống dưới sườn đê rồi bỏ chạy vào nhà H và T5, Tuấn A đã lên giường nhà H ngồi. Lúc này

3

anh Nguyễn Văn L1 con trai ông N1 ở trong nhà, nghe thấy tiếng truy hô cũng chạy ra cổng đuổi theo một đoạn nhưng không kịp, anh L1 nghĩ đối tượng đã bỏ chạy về hướng xã P nên chạy vào nhà H, T5 để hỏi mượn xe đuổi theo. Khi vào nhà H và T5, anh L1 thấy Tuấn A đang ngồi trên giường, anh L1 hỏi “có ai ở nhà không” Tuấn A trả lời “Em không biết”. Lúc này, bà Phạm Thị H1 là mẹ của H và T5 đi làm về, anh L1 mượn xe mô tô của chị H1 để đuổi theo kẻ trộm nhưng không thấy ai nên đã đi về nhà, ông N1 đến dắt chiếc xe mô tô của gia đình bị kẻ gian trộm cắp để ở sườn đê về. Khi về nhà, anh L1 mở điện thoại để xem lại video được lưu trữ trong chiếc Camera giám sát lắp tại gia đình thì phát hiện thấy hình ảnh người nam thanh niên lấy trộm xe máy có đặc điểm tượng tự như người nam thanh niên trước đó anh gặp tại gia đình chị Phạm Thị H1. Anh L2 đi xe mô tô đến nhà chị H1 để trả xe thì thấy Tuấn A đứng ở sân, anh L2 tiến đến hỏi có phải Tuấn A là người đã trộm cắp xe mô tô không thì Tuấn A không thừa nhận đã trộm cắp xe mô tô nhà anh L2. Ngay sau đó anh L2 và ông N1 đã đến Công an xã L trình báo nội dung sự việc gia đình bị mất xe mô tô và việc nghi ngờ Tuấn A là người trộm cắp xe. Nhận được tin báo, Công an xã L đã đến nhà chị H1 yêu cầu Tuấn A lên trụ sở Công an làm việc. Tại Công an xã L, Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của gia đình ông N1.

Ngày 24/3/2024, ông N1 giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave, màu sơn đen, biển số 98H1-403.35; 01 (một) đăng ký xe mô tô số 98000051 biển kiểm soát 98H1-403.35 mang tên Nguyễn Văn N1, cấp ngày 15/12/2022, nơi cấp: Công an xã L, huyện T. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, ngày 24/3/2024, Công an xã L đã chuyển toàn bộ hồ sơ và tài liệu liên quan đến Công an huyện T để xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 25/3/2024, Cơ quan điều tra thu giữ của Hoàng Tuấn A: 01 (một) chiếc áo khoác màu đen, dạng nỉ, áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu trắng, đỏ; áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần bò dài màu đen, đốm trắng có vết rách ở đùi, đầu gối, quần cũ đã qua sử dụng.

Ngày 26/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá chiếc xe mô tô mà Tuấn A trộm cắp của gia đình ông N1. Tại Kết luận định giá tài sản số: 11/KL-ĐGTS ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 98H1- 403.35, số khung: RLHJA3928NY178111; số máy: JA39E2675019, đăng ký lần đầu ngày 15/12/2022 (xe cũ, đã qua sử dụng) có giá 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).

Ngày 28/3/2024, anh Nguyễn Văn L1 giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện T 01 đĩa DVD, màu cam, thương hiệu Maxell bên trong lưu trữ 01 file video có tên “5290512902486.mp4" có dung lượng 22,0 MB bên trong lưu trữ 01 file video ghi lại hình ảnh vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 24/3/2024 tại gia đình anh L1.

4

Tại Kết luận giám định số: 732/KL-KTHS ngày 28/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt, ghép hay chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “5290512902486.mp4" dung lượng 22MB, thời lượng 04 phút 22 giây được lưu trữ trong đĩa DVD -R gửi giám định; Trích xuất được 12 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video giám định.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành cho ông Nguyễn Văn N1 và anh Nguyễn Văn L1 nhận dạng đối tượng đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 24/3/2024. Kết quả ông N1 và anh L1 đều nhận dạng được đối tượng Hoàng Tuấn A là người đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của gia đình. Ngày 05/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Hoàng Tuấn A về tội trộm cắp tài sản và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hoàng Tuấn A.

Vụ thứ hai: Do ở gần gia đình ông Nguyễn Văn T2, Tuấn A thấy ông T2 hay để xe mô tô ở gần bụi tre ngoài cổng nên đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của ông T2 để bán lấy tiền chi tiêu. Khoảng 13 giờ 30 ngày 13/4/2024, Tuấn A đi bộ một mình từ nhà đến cổng nhà ông T2, thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H1-106.95 để ở gần bụi tre bên ngoài cổng, chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa. Quan sát xung quanh thấy không có ai, Tuấn A đã đến ngồi lên xe mở khóa điện, nổ máy và điều khiển xe đi. Nghe thấy tiếng động bên ngoài, ông T2 từ trong nhà chạy ra thì thấy Tuấn A đang điều khiển xe mô tô, ông T2 hô “đứng lại” nhưng Tuấn A vẫn tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy về hướng đi xã A, huyện Y. Sau đó Tuấn A quay xe đi về xã L, huyện T viết giấy bán chiếc xe trộm cắp cho anh Đỗ Văn T4, được số tiền 2.800.000 đồng, số tiền bán xe được Tuấn A sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi bị mất xe mô tô ông T2 đã làm đơn trình báo Công an, ngày 14/4/2024, nhận thấy hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên Tuấn A đã đến Công an xã L, huyện T xin đầu thú về hành vi trộm cắp xe mô tô của gia đình ông T2. Công an xã L đã tiến hành tạm giữ của anh Đỗ Văn T4 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H1-106.95, xe cũ đã qua sử dụng; 01 giấy tờ mua bán xe đứng tên Hoàng Tuấn A, sinh ngày 20/12/2007 ở thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Do Hoàng Tuấn A tiếp tục phạm tội nên ngày 14/4/2024 Công an xã L, huyện T đã chuyển hồ sơ tài liệu cùng đối tượng Hoàng Tuấn A đến Cơ quan điều tra Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá đối với chiếc xe mô tô mà Tuấn A trộm cắp của gia đình ông T2. Tại Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-ĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, màu sơn nâu, biển

5

kiểm soát 98H1-106.95 (xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu năm 2013) có giá 20.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKS-TY ngày 31/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Hoàng Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn A từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng đến 02 (hai) năm 08 (tám) tháng. Giao bị cáo cho UBND xã L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu 01 (một) chiếc áo khoác màu đen, dạng nỉ, áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu trắng, đỏ; áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần bò dài màu đen, đốm trắng có vết rách ở đùi, đầu gối, quần cũ đã qua sử dụng để tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Hoàng Tuấn A trình bày: Bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Tuấn A luật sư Lê Thị Ngọc L; trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Văn P phát biểu: Về hành vi phạm tội, tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo là đúng, không tranh luận. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo phạm tội lần một mới được 16 tuổi 03 tháng 04 ngày ở độ này nhận thức về xã hội, pháp luật có sự hạn chế, đề nghị xử phạt bị cáo 12 tháng tù cho hưởng mức án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật

6

Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt: Các bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, tài sản bị mất đã được nhận lại và không có yêu cầu bồi thường, do vậy không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Tuấn A thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/3/2024 tại gia đình ông Nguyễn Văn N1 ở thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác ông N1, lén lút thực hiện trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 98H1- 403.35, giá trị tài sản thời điểm bị cáo chiếm đoạt là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng). Khoảng 13 giờ 30 ngày 13/4/2024, tại bụi tre ngoài cổng gia đình ông Nguyễn Văn T2, thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác ông T2, lén lút thực hiện trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H1-106.95, giá trị tài sản thời điểm bị cáo chiếm đoạt là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), tổng giá trị tài sản của 02 lần bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp là 34.000.000 đồng (ba mươi tư triệu đồng). Căn cứ vào giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt các ngày 24/3/2024 và ngày 13/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Hoàng Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã được trả lại cho các bị hại, bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả là trả lại số tiền bị cáo nhận khi bán xe máy, gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo đã đầu thú tại cơ quan điều tra và có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1

7

và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hai lần trộm cắp tài sản ở hai thời điểm khác nhau ngày 24/3/2024 và ngày 13/4/2024, giá trị tài sản của từng lần đều trên 2.000.000 đồng, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi trên của bị cáo Hoàng Tuấn A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình khai báo luôn tỏ ra thành khẩn và ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả là trả lại tiền cho người bị cáo bán xe, gia đình các bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thời điểm phạm tội lần thứ nhất bị cáo mới 16 tuổi 03 tháng 04 ngày, do vậy xử phạt bị cáo mức án thấp hơn 2/3 mức án người đã thành niên phải chấp hành. Nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội, mà cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ răn đe bị cáo thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo đúng chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt, hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo là đối tượng phạm tội từ 16 đến 18 tuổi và không có nghề nghiệp, Hội đồng xét xử miễn phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với Hoàng Tiến Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T5 đều không biết Hoàng Tuấn A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Văn N1 nên Đ, H và T5 không vi phạm pháp luật.

Đối với anh Đỗ Văn T4 làm nghề sửa chữa xe mô tô, khi mua chiếc xe mô tô của Tuấn A, anh T4 không biết và không được Tuấn A nói cho biết chiếc xe mà Tuấn A bán cho anh T4 là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với anh T4 là đúng quy định.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 98H1- 403.35, và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn N1 là tài sản của gia đình ông N1, ngày 05/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại chiếc xe mô tô cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho ông N1 là có căn cứ. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu sơn nâu, biển kiểm soát 98 H1- 106.95 và chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn T2 là tài sản của gia đình ông T2, ngày 02/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

8

huyện T trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho ông T2 là có căn cứ.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Hoàng Tuấn A đã tác động bố mẹ bồi thường số tiền 2.800.000 đồng cho anh Đỗ Văn T4, tại phiên toà bà N không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền này, các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị bị cáo bồi thường thiệt hại, do vậy không đặt ra xem xét giải quyết về bồi thường dân sự.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc áo khoác màu đen, dạng nỉ, áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu trắng, đỏ; áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần bò dài màu đen, đốm trắng có vết rách ở đùi, đầu gối, quần cũ đã qua sử dụng là vật dụng bị cáo mặc sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, xét thấy những vật chứng trên ít giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo Hoàng Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện theo ủy quyền của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 4 Điều 328, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Tuấn A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 18/6/2024. Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Tuấn A.

- Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Hoàng Tuấn A, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

- Giao bị cáo Hoàng Tuấn A cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

9

- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng:

- Tịch thu 01 (một) chiếc áo khoác màu đen, dạng nỉ, áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay màu trắng, đỏ; áo cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần bò dài màu đen, đốm trắng có vết rách ở đùi, đầu gối, quần cũ đã qua sử dụng để tiêu hủy.

(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên.)

3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Tuấn A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, đại diện theo ủy quyền cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BG;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - TAND tỉnh BG;
  • - CQCSĐT - Công an huyện Tân Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BG;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - UBND xã Lan Giới;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Tuấn A trộm 02 xe máy với tổng số tiền là 34.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger