Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-PT

Ngày 17 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang
Ông Nguyễn Quang Vũ

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C và người bị hại anh Trần Quang T, đối với Bản án hình sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

1. Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Trần Quốc C, sinh ngày 21/10/1982, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu dân cư N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Chỗ ở hiện nay: Khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Sỹ H, đã chết và bà Lê Thị Kim S, sinh năm 1958; Bị cáo có vơ là Bùi Thanh N, sinh năm 1986 (đã ly hôn); Bị cáo có người 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 15/11/2022, bị Công an thị xã P xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định số 156 về hành vi “Cố ý gây thương tích” hình thức: Phạt tiền 8.000.000 đồng (đã nộp phạt ngày 18/11/2022);

Nhân Thân: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ từ ngày 11/01/2024 (có mặt).

Bị cáo không có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến N1, sinh ngày 22/02/2004, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi thường trú: Khu D, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá lớp: 08/12. Dân tộc: Mường. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1978, con bà Phan Thị O, sinh năm 1970. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 29/11/2023, bị Công an thị xã P xử phạt VPHC theo quyết định số 123 về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”, mức phạt 6.500.000 đồng (chưa nộp phạt).

Về nhân thân:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HS-ST ngày 11/3/2021, Nguyễn Tiến N1 bị Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ tuyên phạt 03 tháng 15 ngày tù về tội “Cố ý gây thương tích” (N1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi). Buộc bị cáo Nguyễn Tiến N1 (do ông Nguyễn Hữu M đại diện) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (đã nộp ngày 19/5/2021). Chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2021.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HSST ngày 23/3/2022, Nguyễn Tiến N1 bị Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ tuyên phạt 20 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (N1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi). Buộc bị cáo Nguyễn Tiến N1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (đã nộp ngày 12/5/2023). Chấp hành xong hình phạt ngày 19/7/2023.

Ngày 22/02/2021, bị Công an thị xã P xử phạt VPHC theo quyết định số 36 về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”, mức phạt 1.000.000 đồng (đã nộp phạt ngày 21/5/2021).

Ngày 20/4/2021, bị Công an thị xã P xử phạt VPHC theo quyết định số 53 về hành vi “Ném bóng điện, dây điện vào người khác” và “Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ dùng trong sinh hoạt nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”, tổng mức phạt 1.625.000 đồng. Qua xác minh thì hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với N1 không có biên lai thể hiện việc N1 đã nộp phạt và không có Quyết định cưỡng chế thi hành đối với N1.

Ngày 17/9/2021, bị Công an thị xã P xử phạt VPHC theo quyết định số 114 về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”, mức phạt: 2.500.000 đồng. Qua xác minh thì hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với N1 không có biên lai thể hiện việc N1 đã nộp phạt và không có Quyết định cưỡng chế thi hành đối với N1.

Ngày 27/4/2022, bị Công an thị xã P xử phạt VPHC theo quyết định số 74 về hành vi “Mang theo ghế nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác”, mức phạt 2.000.000 đồng. Qua xác minh thì hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với N1 không có biên lai thể hiện đã nộp phạt và không có Quyết định cưỡng chế thi hành đối với N1.

Ngày 30/01/2024, bị Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt VPHC theo quyết định số 363 về hành vi “Ném chất bẩn vào nhà người khác”, mức phạt 4.000.000 đồng (đã nộp phạt 22/02/2024).

Bị bắt tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).

Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:

  • - Người bị hại kháng cáo: Anh Trần Quang T, sinh năm 1984
  • Địa chỉ: Khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
  • - Người bị hại không kháng cáo: Anh Vũ Mạnh H1, sinh năm 1994
  • Địa chỉ: Khu dân cư L, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu C1, sinh năm 1997.
  • Địa chỉ: Xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vũ Mạnh H1, sinh năm 1994, trú tại khu dân cư L, phường Â, thị xã P đến nhà của Trần Quốc C tại khu P, phường P, thị xã P để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn liên quan đến việc trước đây C vay tiền của H1 và việc năm 2018 C ném gạch, đá vào nhà H1, nên rủ một số người đi cùng và chỉ nói là đi có việc, chứ không nói rõ đi với mục đích gì. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 12/11/2023, Nguyễn Việt H2, sinh năm 1996, trú tại khu dân cư T, phường Â, thị xã P điều khiển xe ô tô nhãn hiệu PEUGEOT 2008, màu trắng, Biển kiểm soát 88A-498.61 chở Vũ Mạnh H1; Lê Xuân S1, sinh năm 1998; trú tại khu H, xã H, thị xã P và Nguyễn Quang H3, sinh năm 1993, trú tại khu D, xã V, thị xã P; còn Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995, trú tại khu dân cư P, phường P, thị xã P; Đặng Hồng S2, sinh năm 1997, trú tại khu E, xã L, huyện T; Vi Anh T2, sinh năm 1999, trú tại khu A, xã V, thị xã P; Ngô Tiến Q, sinh năm 2000, trú tại khu C, xã P, thị xã P; Vũ Đức T3, sinh năm 1998, trú tại khu E, xã Đ, huyện T; Trương Tú L, sinh năm 1995, trú tại khu dân cư C, phường Â, thị xã P; Nguyễn Quốc V, sinh ngày 09/3/2007, trú tại khu Đ, xã V, thị xã P; Nguyễn Mạnh L1, sinh ngày 28/9/2006, trú tại khu dân cư T, phường Â, thị xã P; Phan Trương C2, sinh năm 2005 và Đặng Thành T4, sinh năm 2005, đều trú tại xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Ma Trung Đ, sinh năm 2004, trú tại khu P, phường H, thị xã P và Nguyễn Tiến N1 đi xe mô tô đến nhà Trần Quốc C. Do không biết chính xác nhà C nên khi đi đến ngõ nhà C nhóm của H1 đi qua đi lại trong ngõ để tìm nhà. Khi xác định được nhà C thì số người trên dừng đỗ xe phía trước cửa nhà C. H1 bảo H2 xuống xe đi vào nhà tìm C còn H1 lên xe ngồi ở ghế lái xe ô tô. Lúc này, C đang ngồi ở ghế đá trên vỉa hè phía đối diện. Do không biết mặt C nên H2 đi vào nhà tìm C nhưng không thấy ai nên đi ra chỗ C đang ngồi và hỏi “Anh cho em hỏi nhà anh Cường S3 ở đâu anh”, C trả lời: “Anh chính là C Sen đây”, H2 nói “Anh H1 em có chuyện muốn nói với anh” thì C nói “Ừ!bảo anh em xuống đây” đồng thời đi về đứng trước cửa nhà nói chuyện với H1. Lúc này H1 xuống xe nói chuyện với C về việc C vay nợ tiền của H1 và việc năm 2018, C ném gạch đá vào nhà H1 thì hai bên xảy ra cãi nhau. H1 lên xe ngồi ở ghế lái xe ô tô và vẫn mở cửa xe để nói chuyện với C. Lúc này, Trần Quang T, sinh năm 1984, trú tại khu dân cư P, phường P, thị xã P (là em trai ruột của C) từ trong nhà đi ra đứng ở hành lang trước cửa nhà và liên tục to tiếng quát “chúng mày kéo nhau đến đây làm gì”, H2 đi đến đẩy T lùi lại. Lúc này, T chỉ tay về phía nhóm của H1 và nói “Bố chửi các con đấy, địt mẹ các con, bố là Còi đây”, H2 tiếp tục dùng tay đẩy T lùi lại để can ngăn. Nhưng T vẫn tiếp tục chửi nhóm của H1. Thấy T to tiếng quát chửi như vậy Nguyễn Tiến N1 đã lao vào dùng tay phải đấm một cái thẳng vào vùng mặt bên trái của T làm T ngã nghiêng bên phải xuống vỉa hè. Thịnh liền đứng dậy đi lại bám tay vào phần kính cửa trước bên lái xe ô tô của H1 đang ở trạng thái mở với mục đích để giữ H1 lại nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Khi thấy T bị đánh, C đi vào bếp lấy 02 con dao, tay trái cầm 01(Một) con dao có chiều dài 34 cm (trong đó lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm, bản rộng nhất là 7,5cm, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI - BRAND, STAINLESSSTEEL”, chuôi dao bằng gỗ dài 13 cm, rộng 03cm (dao cũ đã qua sử dụng)); tay phải cầm 01 (Một) con dao bằng kim loại màu trắng có chiều dài 41,5 cm (trong đó phần chuôi dao bằng gỗ màu nâu có chiều dài 12,5cm, phần thân dao bằng kim loại màu trắng dài 19cm, trên thân dao có in chữ “KIWI - BRAND MADE IN THAILAND”, phần thân dao có một lỗ tròn chạy ra lao đến vị trí H1 đang đỗ xe ô tô để đánh, chém H1 nhưng không chém được vì H1 ngồi trong xe, sau đó C bị rơi 01 con dao cầm bên tay phải xuống vỉa hè. Thấy C cầm dao lao đến H1 sợ hãi nổ máy điều khiển xe ô tô tăng ga để bỏ chạy. Do lúc này T đang đứng cạnh xe ô tô của H1 ngang với cửa bên ghế lái và tay trái nắm vào phần kính của xe ô tô đang ở trạng thái mở, khi H1 nổ máy xe ô tô thì phần kính của cửa xe ô tô bên ghế lái cũng tự kéo lên, T không buông tay ra mà cố tình bám vào cửa xe nên khi xe của H1 đi được khoảng 5 mét đến 7 mét thì T bị ngã nghiêng sang bên trái xuống vỉa hè. Khi T bị ngã thì C dùng tay phải nhặt con dao bị rơi lúc trước đuổi theo chém 01 cái làm vỡ kính chắn gió phía sau xe ô tô của H1. Vũ Mạnh H1 tiếp tục điều khiển xe ô tô bỏ đi thì có xảy ra va chạm với 01 xe ô tô, nhãn hiệu Vios, Biển kiểm soát 19A-129.25 của anh Lê Mạnh H4, sinh năm 1961; trú tại khu dân cư P, phường P, thị xã P đang dừng đỗ phía trước nhưng không bị hư hỏng gì. Sau đó tất cả nhóm của H4 đi về. Hậu quả: Xe ô tô Biển kiểm soát 88A-498.61 bị vỡ kính chắn gió phía sau. AnhTrần Quang T bị gãy cung tiếp xương gò má trái (do bị Nguyễn Tiến N1 đấm) và chụp Xquang khung chậu thẳng phát hiện gẫy ngành trên xương mu trái (do bám vào xe ô tô của H4 bị ngã xuống đường) được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa thị xã P từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023 thì ra viện.

Sau khi sự việc xảy ra Trần Quốc C và Vũ Mạnh H1 đã có đơn trình báo sự việc đến cơ quan Công an đề nghị giải quyết sự việc theo quy định của pháp luật. Đồng thời Vũ Mạnh H1 giao nộp 01 xe ô tô nhãn hiệu PEUGOUT, màu trắng, Biển kiểm soát 88A-498.61, kính chắn gió phía sau bị vỡ; Trần Quốc C giao nộp 02 con dao mà C đã sử dụng khi xảy ra sự việc để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 15/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã P định giá xác định giá trị thiệt hại của kính chắn gió phía sau xe ô tô Biển kiểm soát 88A-498.61. Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐG ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã P kết luận: Giá trị thiệt hại 01 kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu PEUGOUT, Biển kiểm soát 88A-498.61trị giá 4.888.000 đồng (Bốn triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng).

Ngày 04/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với anh Trần Quang T. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 232/KLTTCT/TTPY của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận tại thời điểm giám định: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của từng thương tích anh Trần Quang T: Gãy cung tiếp gò má bên trái di lệch: 10%. Gãy ngành trên xương mu bên trái: 15%.

- Tại thời điểm giám định sưng nề vùng má bên trái nay không để lại tổn thương gì nên Trung tâm pháp y không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

- Tại thời điểm giám định chỉ định chụp CT Scanner hàm mặt không thấy hình ảnh gãy xương hàm nên Trung tâm pháp y không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư: 23,5 %, làm tròn 24 %. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Quang T là 24 % (Hai mươi bốn phần trăm)."

Cơ quan điều tra đã triệu tập Trần Quốc C, Nguyễn Tiến N1, Vũ Mạnh H1, Trần Quang T và những người liên quan để làm việc. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Tiến N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi dùng tay đấm gây thương tích cho anh T (Gãy cung tiếp xương gò má trái), Trần Quốc C đã khai nhận toàn bộ hành vi dùng dao chém làm vỡ kính chắn gió phía sau xe ô tô của H1 như nêu trên.

Ngày 11/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Cố ý gây thương tích”, đồng thời ra Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Quốc C về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 178 Bộ luật hình sự. Hành vi Nguyễn Tiến N1 lao vào dùng tay đấm vào vùng mặt bên trái gây thương tích cho Trần Quang T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10 % (Mười phần trăm). Nguyễn Tiến N1 có hành vi đánh gây thương tích cho anh T thể hiện sự côn đồ, vô cớ đánh người cho dù không có mâu thuẫn, xích mích gì với anh Trần Quang T, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Tiến N1 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Về điều kiện kinh tế: Trần Quốc C và Nguyễn Tiến N1 không có tài sản chung, riêng gì có giá trị.

Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến N1;

Khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quốc C;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo Trần Quốc C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Tiến N1 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 15/01/2024.

Xử phạt Trần Quốc C 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quốc C.

2. Về bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Xác nhận bị cáo Trần Quốc C đã bồi thường số tiền 4.888.000 đồng (Bốn triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng) cho vợ chồng anh Vũ Mạnh H1 và chị Nguyễn Thị Thu C1.

Công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo Nguyễn Tiến N1 và bị hại Trần Quang T: Bị cáo Nguyễn Tiến N1 phải bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho anh Trần Quang T là 24.800.000 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Xác nhận bị cáo Nguyễn Tiến N1 đã nộp số tiền để bồi thường thiệt hại cho anh Trần Quang T (do anh Đặng Hồng S2 nộp thay) là: 10.000.000 đồng theo Biên lai số 004125 ngày 23/4/2024 tại Chị cục thi hành án thị xã P. Bị cáo Nguyễn Tiến N1 còn phải bồi thường số tiền còn lại là 14.800.000 đồng.

Tịch thu để tiêu huỷ: 01(Một) con dao (loại dao chặt) dài 34 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm; bản rộng nhất là 7,5cm, trên lưỡi dao có dòng chữ “KIWI - BRAND, STAINLESSSTEEL”; chuôi dao bằng gỗ dài 13cm, rộng 03cm (dao cũ đã qua sử dụng) của Trần Quốc C; 01(Một) con dao (loại dao chặt) bằng kim loại màu trắng có chiều dài 41,5 cm (trong đó phần chuôi dao bằng gỗ màu nâu có chiều dài 12,5cm; phần thân dao bằng kim loại màu trắng dài 29cm, trên thân dao có in chữ “KIWI - BRAND MADE IN THAILAND”, phần thân dao có một lỗ tròn (dao cũ đã qua sử dụng) của Trần Quốc C.

Xác nhận ngày 24/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu C1 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu PEUGOUT 2008, màu trắng, Biển kiểm soát 88A - 498.61, phần kính chắn gió phía sau bị vỡ. (Vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 27/3/2024).

Bản án còn tuyên lãi suất, nghĩa vụ án phí và quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, bị cáo Trần Quốc C có đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 26/4/2024, của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ cho rằng áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là quá nặng và xin áp dụng hình phạt khác nhẹ hơn.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, người bị hại anh Trần Quang T có đơn kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm cho rằng phải áp dụng mức thiệt hại bị cáo N1 gây ra cho anh tổn hại sức khỏe mức 25% để xử tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tiến N1 và buộc bị cáo phải tăng mức bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Trần Quang T xin rút toàn bộ kháng cáo của mình.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc C giữ nguyên kháng cáo, đề nghị áp dụng hình phạt khác nhẹ hơn đối với bị cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, người bị hại anh Trần Quang T xin rút toàn bộ kháng cáo nên căn cứ Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ kháng cáo của người bị hại anh Trần Quang T.

Đối với bị cáo Trần Quốc C: Ngày 16/7/2024, bị cáo Trần Quốc C ủng hộ tài trợ cho bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn được Bệnh viện đa khoa thị xã P xác nhận cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Trần Quốc C. Sửa phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Trần Quốc C tại bản án hình sự sơ thẩm 18/2024/HSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, mức từ 12 đến 15 tháng cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục bị cáo, còn thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và khấu trừ thu nhập mức 150.000đồng/tháng trong thời gian bị cáo bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Tiến N1 đã bồi thường thiệt hại bổ sung cho anh Trần Quang T số tiền 5.000.000đồng, theo biên lai thu tiền số 0004253 ngày 16/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C và người bị hại anh Trần Quang T thực hiện trong hạn luật định được chấp nhận.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Xét kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C xin giảm nhẹ hình phạt thấy rằng:

Căn cứ xác định hành vi phạm tội: Khoảng hơn 15 giờ ngày 12/11/2023, tại khu dân cư P, phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, mặc dù giữa Nguyễn Tiến N1 và anh Trần Quang T không có mâu thuẫn với nhau từ trước nhưng Nguyễn Tiến N1 đã dùng tay phải đấm một cái vào vùng mặt bên trái của anh Trần Quang T làm gãy cung tiếp gò má bên trái, gây tổn hại 10% sức khỏe cho anh T, còn Trần Quốc C đã dùng dao tác động làm vỡ kính chắn gió phía sauxe ô tô Biển kiểm soát 88A-498.61 của vợ chồng anh Vũ Mạnh H1, tổng giá trị thiệt hại 4.888.000 đồng. Nên hành vi của Nguyễn Tiến N1 bị truy tố, xét xử về tội Cố ý gây thương tích tình tiết định khung là có tính chất côn đồ, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, hành vi của Trần Quốc C bị truy tố, xét xử về tội Cố ý làm hử hỏng tài sản là có căn cứ, đúng pháp luật.

Căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo Trần Quốc C thấy rằng: Quá trình điều tra và giải quyết vụ án bị cáo hành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Quốc C có bố đẻ là thương binh hạng 1/8 là người có công với cách mạng; có mẹ đẻ được thưởng huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên được áp dụng là 02 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, ngày 16/7/2024, bị cáo Trần Quốc C đã nộp tiền ủng hộ, tài trợ cho bênh nhân có hoàn cảnh khó khăn được Bệnh viện Đa khoa thị xã P xác nhận cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; đây được coi là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm áp dụng thêm và sửa hình phạt cho bị cáo, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

- Về khấu trừ thu nhập:

Khoản 3 Điều 36 của Bộ Luật hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trực một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án”.

Xét thấy: Bị cáo Trần Quốc C có nghề nghiệp chính là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Quốc C.

2.2. Xét kháng cáo của người bị hại anh Trần Quang T đề nghị xác định bị cáo Nguyễn Tiến N1 gây thương tích cho anh mức 25% sức khỏe để xử tăng hình phạt và tăng mức bồi thường của bị cáo Nguyễn Tiến N1 cho anh thấy rằng:

Tại phiên toà phúc thẩm, anh Trần Quang T có mặt tại phiên tòa có quan điểm tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo của mình đối với bị cáo Nguyễn Tiến N1. Xét thấy việc anh T rút kháng cáo là tự nguyện, không bị ai ép buộc nên cần chấp nhận và đình chỉ kháng cáo của anh Trần Quang T.

[3] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ngày 16/7/2024, bị cáo Nguyễn Tiến N1 đã bồi thường bổ sung cho anh Trần Quang T số tiền 5.000.000 đồng, tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ và nộp biên lai thu tiền số 0004253, ngày 16/7/2024 nên cần xác nhận. Tại cấp sơ thẩm, bị cáo N1 đã bồi thường một phần thiệt hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên bị cáo tiếp tục bồi thường thêm không được tiếp tục áp dụng tình tiết giảm nhẹ này để làm căn cứ để xét giảm hình phạt cho bị cáo Nguyễn Tiến N1. Xét thấy cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N1 09 tháng tù là tương xứng tính chất của hành vi phạm tội nên cần giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tiến N1.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Người bị hại anh Trần Quang T rút kháng cáo nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Bị cáo Nguyễn Tiến N1 tiếp tục bồi thường thiệt hại số tiền 5.000.000đồng tại cấp phúc thẩm không được xem xét tính lại án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C

Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quốc C.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc C phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản".

- Xử phạt Trần Quốc C 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án.

- Giao bị cáo Trần Quốc C cho UBND phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND phường A trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Bị cáo phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần. Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật đặc biệt nặng. Người bị cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

- Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Quốc C.

[2] Căn cứ Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người bị hại anh Trần Quang T đề nghị xét xử bị cáo Nguyễn Tiến N1 gây thương tích cho anh mức 25% để xử tăng hình phạt và buộc bị cáo Nguyễn Tiến N1 phải tăng mức bồi thường thiệt hại.

[3] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự;

- Xác nhận bị cáo Trần Quốc C đã bồi thường số tiền 4.888.000 đồng (Bốn triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng) cho vợ chồng anh Vũ Mạnh H1 và chị Nguyễn Thị Thu C1.

- Công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo Nguyễn Tiến N1 và bị hại Trần Quang T: Bị cáo Nguyễn Tiến N1 phải bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho anh Trần Quang T là 24.800.000 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Xác nhận ngày 23/4/2024, bị cáo Nguyễn Tiến N1 đã nộp số tiền để bồi thường thiệt hại cho anh Trần Quang T (do anh Đặng Hồng S2 nộp thay) là: 10.000.000 đồng theo Biên lai số 004125 tại Chị cục thi hành án thị xã Phú Thọ và ngày 16/7/2024, bị cáo Nguyễn Tiến N1 tiếp tục bồi thường cho anh Trần Quang T (do anh Đặng Hồng S2 nộp thay) số tiền 5.000.000 đ (Năm triệu đồng) tại biên lai số 0004253, của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo Nguyễn Tiến N1 còn phải bồi thường cho anh Trần Quang T số tiền là 9.800.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Quốc C và người bị hại anh Trần Quang T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - STP tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND thị xã Phú Thọ;
  • - VKSND thị xã Phú Thọ;
  • - Công an thị xã Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS thị xã Phú Thọ;
  • - TB UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có QLVNLQ;
  • - Lưu HS; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hán Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 43/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger