|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày 17-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Lô Thị Huyền
Ông Thò Bá Tểnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại nhà văn hóa thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lô Văn Đ, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 08 tháng 01 năm 1999 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Y, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Văn K và con bà Lô Thị N; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 5 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Mạc Thị B, sinh năm 1973. Trú tại: Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
Người chứng kiến: Anh Trần Danh B1. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 11/5/2024, Lô Văn Đ lên cơn nghiện chất ma túy nên đã điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA WAWE ALPHA, biển kiểm soát 37D1-212.85 đi đến khu vực bản Đ, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An để mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, Đ gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua ma tuý H cùng ma tuý hồng phiến với giá 4.000.000đ, người đàn ông đó đồng ý. Đ đưa tiền thì người đàn ông đó cầm tiền và nói Đ đứng chờ. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, người đàn ông đó quay lại đưa cho Đ 02 gói ma túy gồm: 01 gói được gói bằng bao potylen màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 gói được gói bằng bao potylen màu trắng bên trong có viên nén màu hồng. Đ cầm lấy 02 gói ma túy vào lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ điều khiển xe máy đi về đến khu vực bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thu giữ trong lòng bàn tay trái của Đ 02 gói ma túy bao gồm: 01 gói được gói bằng bao potylen màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 gói được gói bằng bao potylen màu trắng bên trong có chứa các viên nén màu hồng. Đ khai nhận với tổ công tác số chất bột màu trắng là ma tuý Heroine và số viên nén màu hồng là ma tuý hồng phiến của Đ mua về để sử dụng. Đồng thời tổ công tác còn thu giữ của Lô Văn Đ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAWE ALPHA, biển kiểm soát 37D1-212.85. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lô Văn Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và các biên bản khác theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 409/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 13/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn Đ gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn Đ có tổng khối lượng là 01 gam (Một gam).
- Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn Đ gửi đến giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn Đ có khối lượng là 0,5 gam (Không phẩy năm gam).
Bản Cáo trạng số 40/CT-VKS-TD ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Lô Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
3
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lô Văn Đình mức án từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.
Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng mình ở mức thấp nhấp theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lô Văn Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 11/5/2024, tại bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lô Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5 g Heroine và 01g Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng, tổng hai chất ma túy là 1,5 gam. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
4
[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lô Văn Đ, quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân, lý lịch cụ thể của những người này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chị Mạc Thị B người đã cho Đ mượn chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAWE ALPHA, biển kiểm soát 37D1-212.85, quá trình điều tra xác định việc Đ sử dụng xe máy đi mua ma túy chị B không biết nên hành vi của chị B không cấu thành tội phạm.
[7] Xử lý vật chứng: 0,5g Heroine (đã lấy 0,2g để đi giám định) và 01g Methamphetamine (đã lấy 0,2g để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAWE ALPHA, biển kiểm soát 37D1-212.85. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của Mạc Thị B, sinh năm 1973, trú tại bản Pột, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Việc Lô Văn Đ sử dụng chiếc xe máy để đi mua ma túy chị B không biết nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị B theo đúng quy định pháp luật.
[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
5
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn Đ 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 11/5/2024.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;
(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 24.6.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô Văn Đ.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 17/7/2024. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Ái |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
