Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HSST

Ngày: 16-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu
  • Ông Thạch Thanh Sơn
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lôi Vĩnh Trí, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Nhật H, sinh ngày 17/10/1998; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam. Họ tên cha Trần Văn T, sinh năm 1978; Họ tên mẹ: Trần Trúc L, sinh năm 1978; A, chị em ruột: Không có; Vợ: Không có; Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 11/01/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
  2. Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  3. Ông Lâm Tấn L1, sinh năm 2005 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/11/2023, Nguyễn Văn Ú cùng với Thái Văn S, Thái Văn V, Diệp Hoàng V1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Cao K, Đặng Nhất L2 cùng ở địa chỉ ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh để đến nhà Tô Hoàng H1 dự tiệc tân gia. Lúc này, Trần Nhật H cùng với Lê Văn T1, Lâm Tấn L1, Phan Ngọc Q (bạn gái H) và một số người khác đến và ngồi chung bàn với Ú. Trong lúc dự tiệc, Ú ngồi đối diện bạn gái H và nhìn bạn gái H, lúc này có người nói H biết nhưng H không nói gì mà quay sang nói với L1 thì L1 trả lời “Chuyện của anh thì anh muốn làm gì thì làm, nói với em làm gì?”. Do H thường xuyên đến phòng trọ của T1 chơi nên H biết trong phòng trọ T1 có một cây kiếm nên H nảy sinh ý định đi lấy cây kiếm chém Ú. Lúc này, H chở L1 lên H nhưng không nói cho L1 biết là đi lấy cây kiếm. H điều khiển xe đến nhà trọ Thảo My thuộc ấp P, xã S. Đến phòng trọ, do cây kiếm để trên cao nên H ẩm L1 lên lấy cây kiếm xuống, sau đó H lấy áo khoác của H quấn cây kiếm và chở L1 xuống đám tân gia nhậu tiếp. Đến đám, L1 nói với H đem cây kiếm đi về nhưng H nói không có gì đâu và vô nhậu tiếp. Khoảng 10 phút sau, H cùng bạn gái ra về, do L1 biết Ú nên L1 có đi đến chỗ Ú ngồi chào hỏi rồi đi về, Ú nghĩ là L1 mời giao lưu nên Ú cầm ly bia ra ngoài lộ nhựa. H nhìn thấy Ú ra ngoài lộ nhựa nên H tức giận vì Ú nhìn bạn gái H nên H lấy cây kiếm cầm trên tay phải đi đến chỗ Ú đang đứng chém hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái trúng vào bàn tay gây ra thương tích, chém Ú xong H cầm cây kiếm bỏ đi về nhà, trên đường đi H vứt bỏ cây kiếm xuống kênh, còn Ú bị thương được mọi người đưa đến bệnh viện Đa Khoa tỉnh T cấp cứu và điều trị.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 375/2023/KLTTCT-TTPY ngày 20/12/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh T xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Nguyễn Văn Ú tại thời điểm giám định là 7%.

Cơ chế hình thành vết thương trên người của Nguyễn Văn Ú là: Do ngoại lực tác động trực tiếp. Vật gây ra thương tích trên là: Vật cứng có cạnh sắc; hướng từ trên xuống.

Đối với Lâm Tấn L1 có đi chung với H để lây cây kiếm. Quá trình điều tra thì chứng minh việc H rủ L1 đi công việc nhưng lúc đó không nói rõ là đi đâu với mục đích gì, đến khi lấy hung khí đến đám tân gia thì L1 có kiu H đem về nhưng H nói không có gì đâu nên không đặt ra vấn đề xử lý.

Đối với Lê Văn T1 có để cây kiếm trong phòng trọ, việc H đến phòng trọ của T1 để lấy cây kiếm chém Ú gây ra thương tích thì T1 hoàn toàn không biết nên không đặt ra vấn đề xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã bồi thường cho bị hại Ú số tiền 11.022.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 42/CT-VKS.HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Trần Nhật H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Trần Nhật H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ, tình tiết, tính chất của vụ án, nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Trần Nhật H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Nhật H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong số tiền 11.022.000 đồng theo yêu cầu của bị hại.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương tích mà bị cáo đã thực hiện, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh bị cáo Trần Nhật H đã có hành vi dùng cây kiếm (là hung khí nguy hiểm) cầm trên tay phải đi đến chỗ bị hại Nguyễn Văn Ú đang đứng chém hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái trúng vào bàn tay phải gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 7%. Hành vi của bị cáo H gây thương tích cho bị hại 7% thuộc điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo H đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi cố ý gây thương tích là phạm pháp, nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo chỉ vì hành vi của bị hại nhìn bạn gái bị cáo, bị cáo không có mâu thuẩn với bị hại nhưng lại dùng dao gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, với thiệt hại sức khỏe do bị cáo gây ra cho bị hại 7 %. Bị cáo có 01 tiền án đã bị xử phạt tù chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại có hành vi tiếp tục vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét hành vi của bị cáo cần thiết phải đưa ra xét xử nghiêm trước pháp luật, áp dụng một mức hình phạt tù phù hợp với hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm cải tạo giáo dục trở thành con người có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thiệt thiệt hại do mình gây ra. Bị cáo có ông ngoại là thương binh (thương tật hạng 2/4). Bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và phù hợp điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Đối với Lâm Tấn L1 có đi chung với H để lây cây kiếm. Quá trình điều tra thì chứng minh việc H rủ L1 đi công việc nhưng lúc đó H không nói rõ là đi đâu với mục đích gì, đến khi lấy hung khí đến đám tân gia thì L1 có kêu H đem về nhưng H nói không có gì đâu nên không đặt ra vấn đề xử lý. Đối với Lê Văn T1 có để cây kiếm trong phòng trọ, việc H đến phòng trọ của T1 để lấy cây kiếm chém Ú gây ra thương tích thì T1 hoàn toàn không biết nên không đặt ra vấn đề xử lý.

[5] Về quan điểm và đề nghị của vị kiểm sát viên có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 11.022.000 đồng cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Nhật H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Nhật H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.
  3. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Buộc bị cáo Trần Nhật H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CC THADS huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS (...)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Sơn Thị Hồng Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 43/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Trần Nhật H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. 2. Xử phạt bị cáo Trần Nhật H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt. 3. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger