Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

Bản án số: 43/2024/HSST

Ngày 16/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Bích Thủy

Bà Đào Thị Minh Nguyệt

Thư ký phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng – thư ký Toà án nhân dân TX Sơn Tây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/HSST ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đinh Đình K, sinh năm 1981; ĐKHKTT: Số B ngõ C, phường N, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Đinh Đình C (đã chết) và bà: Đỗ Thị B, sinh năm 1957; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 14/6/2021, TAND TX Sơn Tây xử 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành tại trại giam S. Ra trại ngày 28/5/2022 (chưa xoá án tích), tiền sự: Không; Nhân thân:
    • - Ngày 10/01/2003, Công an quận B xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (Đã xác minh tại Công an phường N Kết quả: Không có tài liệu lưu trữ liên quan đến việc XPHC).
    • - Ngày 29/10/2009, TAND quận Cầu Giấy, Hà Nội xử 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích).
    • - Ngày 28/12/2023, TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử 1 năm 9 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/9/2023 đến ngày 08/9/2023 chuyển tạm giam; Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T4 - Cục C3- Bộ C4 “có mặt”

  2. Nguyễn Minh T, sinh năm 1981; ĐKHKTT: Số A phố N, phường N, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Nguyễn Văn C1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1956; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không;

    Nhân thân:

    • - Ngày 26/06/2001, TAND TX Sơn Tây xử 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích).
    • - Ngày 30/9/2003, UBND tỉnh H ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dưỡng 24 tháng (Đã xác minh tại Công an phường N Kết quả: Không có tài liệu lưu trữ liên quan đến việc đưa vào CSGD).
    • - Ngày 11/10/2006, TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xử 15 tháng tù về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản (đã xoá án tích).
    • - Ngày 16/3/2009, TAND TX Sơn Tây xử 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án tích).
    • - Ngày 12/9/2012, TAND TX Sơn Tây xử 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã xoá án tích).
    • - Ngày 26/10/2017, TAND TX Sơn Tây xử 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành tại trại giam T5. Ra trại ngày 29/08/2019 (đã xoá án tích).
    • - Ngày 28/12/2023, TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử 1 năm 6 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/9/2023 đến ngày 08/9/2023 chuyển tạm giam; Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T6 - Bộ C4; “có mặt”.

Bị hại: Anh Trương Anh H, sinh năm 2007; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thị xã S, TP . “vắng mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trương Minh T1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thị xã S, TP. “vắng mặt”
  2. Anh Cao Mạnh C2, sinh năm 1983 “ vắng mặt”

Địa chỉ: Số A đường P, phường P, thị xã S, TP . “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng hơn 21 giờ ngày 28/7/2023, Nguyễn Minh T, sinh năm: 1981, trú tại: A phố N, phường N, TX S điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu vàng, BKS: 29U1-10699 chở Định Đình K, sinh năm: 1981, trú tại: B ngõ C, phường N, TX S (là bạn bè) từ chỗ làm của T (xưởng sản xuất ghế đá ở khu vực chân Chùa V thuộc xã C, huyện B, Hà Nội) đi về. Khi đi đến ngã ba cây đa thuộc thôn C, xã Đ, TX S, K nhìn thấy sát cửa quán bi-a của bà Hoàng Thị L, sinh năm: 1965, ở thôn C, xã Đ, TX S có dựng 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Yadea-Xmen màu đen, không có BKS. Chiếc xe máy điện này là của Trương Anh H, sinh năm: 2007, trú tại: Thôn C, xã Đ, TX S đến chơi bi-a nhưng không có người trông giữ. Lúc này K nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên nói với T “Có cái xe máy điện để ở kia, khuất người nhìn, quay lại để lấy”. T hiểu ý nên điều khiển xe máy đi vòng lại để xác định vị trí để chiếc xe máy điện. Sau đó, K bảo T dừng xe lại đứng cảnh giới còn K đi bộ đến vị trí dựng chiếc xe máy điện, dùng tay dắt chiếc xe máy điện ra rồi ngồi lên xe dùng chân đẩy chiếc xe đến vị trí T đứng cảnh giới. Sau đó T điều khiển xe máy rồi dùng chân phải đạp vào vị trí để chân của chiếc xe máy điện đẩy chiếc xe máy điện cùng K bỏ chạy theo hướng đi gốc đa Áng Độ thuộc xã Đ, TX S rồi đi về hướng đường Q thuộc đường P, phường P, TX S đi tiếp đến ngã ba chốt Ngô Q rồi đi về nhà K ở số B ngõ C, phường N, TX S để cất giấu chiếc xe máy điện, rồi K đi ngủ, còn T điều khiển xe máy đi về nhà.

Đến khoảng hơn 12 giờ ngày 29/7/2023, T đến nhà K thì K bảo đi bán chiếc xe máy điện Y - Xmen neo màu đen đã trộm cắp được để lấy tiền tiêu sài. T đồng ý. K dùng tay đấu dây điện của ổ khoá điện chiếc xe máy điện. Sau đó, K điều khiển xe máy điện đến cửa hàng mua bán, sửa chữa xe điện Mạnh C2, địa chỉ B đường P, phường P, TX S còn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade của T đi phía sau. Khi đến cửa hàng sửa chữa, mua bán xe điện Mạnh Cường thì T đứng đợi ở ngoài đường còn K đi chiếc xe máy điện vào bên trong cửa hàng gặp anh Cao Mạnh C2, sinh năm: 1983, trú tại: 1 đường P, phường P, TX S là chủ cửa hàng, K nói “Đánh cho em chìa khoá xe, em bị mất chìa khoá”. Anh C2 đáp “Ở đây không đánh khoá, nếu đánh khoá thì anh đi ra chợ N”. K hỏi “Thay ổ khoá thì hết bao nhiêu tiền”. anh C2 nói “Ổ khoá thay hết 100.000 đồng”. K nói “Thế thay cho em với sửa luôn cho em cái phần nhựa của đuôi chắn bùn bị gãy”. Anh C2 đồng ý và thay ổ khoá cho chiếc xe máy điện này. Trong quá trình thay ổ khoá K hỏi “Nếu xe này em bán thì được bao nhiêu”. Anh C2 nói “Sao anh không đi mà lại bán, nếu bán thì được khoảng 3.000.000 đồng, em bán chỉ lãi được khoảng 500.000 đồng thôi mà còn phải bảo hành cho người ta nữa”. K nói “Thế em bán luôn cho anh, nhà em vẫn còn xe, mà nhà chật không đi đến”. Anh C2 đồng ý mua và lấy số tiền 3.000.000 đồng đưa cho K. Sau đó K đi ra gặp T rồi T điều khiển xe máy chở K về. Trên đường về K nói với T rằng bán chiếc xe máy điện được 3.000.000 đồng và đưa cho T 1.500.000 đồng.

Ngày 30/7/2023 sau khi phát hiện bị mất chiếc xe đạp điện, anh T1 làm đơn trình báo đến Công an xã Đ

Cơ quan điều tra đã xác minh truy tìm đối tượng, rà soát camera xác định được 02 đối tượng là Đinh Đình K và Nguyễn Minh T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe đạp điện trên của gia đình anh T1 như đã khai ở trên. Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm:

  • - 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu Yadea - Xmen neo màu đen, không gắn BKS, số khung:RL9YMLYALCF16955, số máy: 2ZW6050319YECKRL791 895C, xe cũ đã qua sử dụng. Do anh Cao Mạnh C2 tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra để giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngày 13/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TX S có bản Kết luận số 68/KL-HĐĐGTS kết luận: 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu Yadea-Xmen neo màu đen, không gắn BKS, số khung: RL9YMLYALCF16955, số máy: 12ZW6050319YECKRL791895C. Xe cũ đã qua sử dụng. Trị giá: 4.000.000 đồng;

Ngày 04/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an T7 đã ra Quyết định số: 24/QĐ-CQĐT Xử lý vật chứng bằng hình thức:

  • + Trao trả cho anh Trương Kim T2, sinh năm: 1982, trú tại: Thôn C, xã Đ, TX S đồ vật, tài sản gồm: 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu Yadea - Xmen neo màu đen, không gắn BKS, số khung: RL9YMLYALCF16955, số máy: 12ZW6050319YECKRL791895C. Xe cũ đã qua sử dụng

Đối với anh Cao Mạnh C2, khi trao đổi mua xe của Đinh Đình K tại cửa hàng, C2 và K không làm giấy tờ mua bán, K không đưa giấy tờ xe và C2 cũng không hỏi vì theo C2 khai giá trị của xe thấp. Sau khi mua xe C2 đã thay ổ khoá điện xe và bày bán ở cửa hàng. Ngày 30/7/2023, khi Cơ quan Công an đến hỏi về nguồn gốc chiếc xe thì C2 mới biết đây là chiếc xe do trộm cắp mà có. C2 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe máy điện trên để phục vụ điều tra vụ án. Nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với anh Cao Mạnh C2.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu vàng, BKS: 29U1 – 10699,T tiếp tục sử dụng chiếc xe máy trên làm phương tiện đi trộm cắp tại thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V bắt quả tang và tạm giữ chiếc xe máy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy là tài sản của bà Nguyễn Thị D: Tối ngày 28/7/2023, Nguyễn Minh T mượn chiếc xe máy trên để đi làm nên bà D đồng ý đưa xe cho T sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trao trả chiếc xe máy trên cho bà D. Khi nhận lại chiếc xe máy trên thì bà D đã bán chiếc xe máy cho một người không quen biết. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, tạm giữ đối với chiếc xe máy.

Về dân sự:

Anh Trương Kim T2 đã được Cơ quan điều tra trao trả xe máy điện nhãn hiệu Yadea - Xmen neo màu đen, không gắn BKS, số khung: RL9YMLYALCF16955, số máy: 12ZW6050319YECKRL791895C. Anh T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Đinh Đình K và Nguyễn Minh T bồi thường.

Anh Cao Mạnh C2 là người mua chiếc xe máy điện trên của Đinh Đình K với số tiền 3.000.000 đồng, anh C2 đã giao nộp chiếc xe máy điện để phục vụ điều tra. Nay anh C2 không có đề nghị gì và cũng không yêu cầu Đinh Đình K và Nguyễn Minh T phải hoàn trả lại số tiền 3.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Đinh Đình K và Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSST ngày 21/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Đinh Đình K, Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Đình K từ 18 đến 21 tháng tù. Tổng hợp với 01( năm) 9 ( chín) tháng tù của bản án bản án số 142/2023/HSST ngày 28/12/2023 TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 02/9/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 15 đến 18 tháng tù. Tổng hợp với 01( năm) 06 ( sáu) tháng tù của bản án bản án số 142/2023/HSST ngày 28/12/2023 TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 02/9/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự đã trả lại cho người bị hại, người có quyền lợi liên quan không có đề nghị nên không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã T7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định theo Bộ luật tổ tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo được đưa ra các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định của pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì đã có lời khai tại Cơ quan điều tra.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Đinh Đình K và Nguyễn Minh T đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa. Xét về chứng cứ đã có cơ sở để kết luận:

Khoảng hơn 21 giờ ngày 28/7/2023, Đinh Đình K cùng với Nguyễn Minh T điều khiển xe máy đi qua quán bi-a của bà Hoàng Thị L, sinh năm: 1965, ở thôn C, xã Đ, TX S, quan sát thấy sát cửa quán của bà L dựng 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Yadea -Xmen màu đen, không có BKS của Trương Anh H. Lợi dụng sơ hở không có người trông giữ, T đứng cảnh giới để K lén lút trộm cắp xe máy điện, trị giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Sau đó K bán được 3.000.000đ, chia cho T 1.500.000đ.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Đinh Đình K và Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Viện kiểm sát truy tố là đúng.

[3] Xét về tính chất của vụ án:

Các bị cáo Đinh Đình K, Nguyễn Minh T là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng không cấp chịu rèn luyện bản thân chấp hành quy định của pháp luật mà ham lợi, thích hưởng thụ thành quả lao động của người khác nên lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi, quản lý tài sản để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương.

Vụ án có hai bị cáo tham gia nhưng mang tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không có ý định đi trộm cắp trước mà chỉ nảy sinh khi trên đường đi làm về nhìn thấy chiếc xe máy điện không có ai trông giữ. Khi trộm cắp được tài sản đem bán và hưởng lợi ngang nhau nên có vai trò như nhau trong vụ án.

[4] Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trái pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc trong lúc lượng hình để đưa ra bản án nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.

[5] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo Đinh Đình K nhân thân xấu đã bị xử lý hình sự nhiều lần, trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này bị cáo có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa mà tiếp tục phạm tội do vậy áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngày 28/12/2023, TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử 1 năm 9 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản.

Bị cáo Nguyễn Minh T có nhân thân xấu, đã bị xử lý hình sự nhiều lần mặc dù đã được xóa án tích. Ngày 28/12/2023, TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử 1 năm 6 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản.

Các bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho thấy sự coi thường pháp luật của các bị cáo. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy, khi lượng hình HĐXX sẽ căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật mà cải tạo thành người lương thiện có ích cho gia đình và xã hội.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về các vấn đề khác của vụ án:

Đối với anh Cao Mạnh C2, khi trao đổi mua xe của Đinh Đình K tại cửa hàng, C2 và K không làm giấy tờ mua bán, K không đưa giấy tờ xe và C2 cũng không hỏi vì theo C2 khai giá trị của xe thấp. Sau khi mua xe C2 đã thay ổ khoá điện xe và bày bán ở cửa hàng. Ngày 30/7/2023, khi Cơ quan Công an đến hỏi về nguồn gốc chiếc xe thì C2 mới biết đây là chiếc xe do trộm cắp mà có. C2 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe máy điện trên để phục vụ điều tra vụ án. Nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với anh Cao Mạnh C2.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu vàng, BKS: 29U1 – 10699,T tiếp tục sử dụng chiếc xe máy trên làm phương tiện đi trộm cắp tại thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V bắt quả tang và tạm giữ chiếc xe máy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy là tài sản của bà Nguyễn Thị D: Tối ngày 28/7/2023, Nguyễn Minh T mượn chiếc xe máy trên để đi làm nên bà D đồng ý đưa xe cho T sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trao trả chiếc xe máy trên cho bà D. Khi nhận lại chiếc xe máy trên thì bà D đã bán chiếc xe máy cho một người không quen biết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về dân sự:

Anh Trương Kim T2 đã được Cơ quan điều tra trao trả xe máy điện nhãn hiệu Yadea - Xmen neo màu đen, không gắn BKS, số khung: RL9YMLYALCF16955, số máy: 12ZW6050319YECKRL791895C. Anh T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Đinh Đình K và Nguyễn Minh T bồi thường.

Anh Cao Mạnh C2 là người mua chiếc xe máy điện trên của Đinh Đình K với số tiền 3.000.000 đồng, anh C2 đã giao nộp chiếc xe máy điện để phục vụ điều tra. Nay anh C2 không có đề nghị gì và cũng không yêu cầu Đinh Đình K và Nguyễn Minh T phải hoàn trả lại số tiền 3.000.000 đồng.

[7] Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Đình K và Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản"

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đinh Đình K 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 9 (chín) tháng tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 142 ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc . Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/9/2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 9(chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 142 ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/9/2023.

Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Đã trả lại cho người bị hại, người có quyền lợi liên quan không có đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lưu Ngọc H1
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 43/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger