Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 16-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn La

Ông Đồng Văn Diện

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hứa Văn Đ. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam. Sinh năm 2000;

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên bố: Hứa Văn N, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Vy Thị B, sinh năm 1966. Gia đình có 05 anh, chị em, bản thân là thứ năm, bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Tại Bản án số 23/2024/HSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Ngày phạm tội 16/12/2023).
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 15/04/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K, huyện L (Phạt tiền 3.500.000 đồng) đối với Hứa Văn Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trong vụ án khác có mặt tại phiên tòa.

1

- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc M, sinh năm 2003 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng cuối tháng 11/2023, Hứa Văn Đ có thuê trọ ở nhà chị Trần Thị H, sinh năm 1986 là chủ nhà trọ H1 tại tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vài ngày sau khi ở trọ, do không có tiền chi tiêu nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Vào khoảng 14 giờ ngày 01/12/2023, Đ đi bộ từ nhà trọ ra ngã tư thị trấn K rồi đi thẳng về hướng thị trấn B khoảng 50m thì rẽ trái vào đường liên thôn khoảng 200m, Đ thấy trước cửa quán Internet “Game 1993” địa chỉ tại tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L do anh Phạm Đình Đ1, sinh năm 1990, trú tại thôn H, xã T, huyện L làm chủ, ở rìa đường có khoảng 7, 8 xe mô tô, trong đó có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 98B3-480.56 của anh Nguyễn Ngọc M, sinh năm 2003, ở tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là khách đến chơi game ở quán của anh Đ1) vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Đ đi bộ qua cửa quán khoảng 15-20m rồi quay lại, quan sát thấy không có ai trông coi, Đ đi đến vị trí chiếc xe, dắt xe ra, lên xe mở khóa điện, nổ máy rồi điều khiển chiếc xe đi theo đường liên thôn ra quốc lộ A đi thẳng về xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, Đ vào 01 cửa hàng cầm đồ (Đ không nhớ địa chỉ và biển hiệu của quán) đặt chiếc xe trên làm tin vay được 2.000.000 đồng. Số tiền trên Đ đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 01/12/2023, sau khi phát hiện xe mô tô của mình bị trộm cắp, anh Nguyễn Ngọc M làm đơn trình báo đến Công an thị trấn K, huyện L.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 111/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá của 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: trắng đen bạc; loại 110CC; BKS: 98B3-480.56; đăng ký lần đầu tháng 8/2019; cũ đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 01/12/2023 có giá là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hứa Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Hứa Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Hứa Văn Đ từ 10 (Mười) tháng đến 01 (Một) năm tù về tội “Trộm

2

cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt 07 ( Bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Buộc bị cáo Hứa Văn Đ2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 theo Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý trách nhiệm dân sự, tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo

3

trạng đã nêu. Lời khai của bị hại phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 01/12/2023, tại quán Internet “Game 1993” địa chỉ tại tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, Hứa Văn Đ có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 98B3-480.56 trị giá 10.000.000 đồng của anh Nguyễn Ngọc M đem cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Hành vi của Hứa Văn Đ đủ yếu tố cấu thành của tội trộm cắp tài sản, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản nhằm phục vụ cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy bị cáo đã bị xử phạt 07 (Bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, hiện đã có Quyết định hành án, nay lại tiếp tục bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nên áp dụng Điều 56 của BLHS tổng hợp hình phạt của hai bản án bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, bị nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên HĐXX miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để bị cáo yên

4

tâm cải tạo sớm có điều kiện trở về làm ăn lương thiện.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Ngọc M yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại giá trị chiếc xe mô tô số tiền là 10.000.000 đồng.

Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 2 Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc M số tiền trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B3-480.56 là tài sản của anh Nguyễn Ngọc M, sau khi trộm cắp Đ cầm cố cho một người ở cửa hàng cầm đồ tại xã V, huyện V nhưng Đ không biết tên tuổi của người này, không nhớ cửa hàng, biển hiệu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh và thu hồi được chiếc xe này, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do bị cáo là hộ nghèo tại phiên tòa bị cáo xin được miễn tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Nên HĐXX miễn tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm đối với bị cáo.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, xử lý trách nhiệm dân sự, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Hứa Văn Đ 10 ( M1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt 07 ( Bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Buộc bị cáo Hứa Văn Đ2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 01 ( Một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ

5

ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 theo Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 2 Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Hứa Văn Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc M số tiền 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn tiền án phí hình sự và tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Hứa Văn Đ.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

6

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND, CA, Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng TTĐT Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hứa Văn Đ- TCTS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger