TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS-PT
Ngày 16-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Ông Đặng Văn Sử
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/HSPT ngày 15-3-2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 140/2023/HSST ngày 26-12-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1986 tại Bình Định; nơi cư trú: tổ G, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn T; Con bà Phan Thị B; chồng: Phan Đạt T1 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Thu N làm thuê lau chùi nhà cửa cho nhà bà Trần Thị Thu T2, sinh năm 1978, chỗ ở: Số B, đường P, phường L, thành phố B từ năm 2018 đến tháng 6/2023. Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 19/6/2023, N đến nhà của bà T2 để dọn dẹp. Do nhà bà T2 bận công việc, không có ở nhà nên bà T2 giao chìa khóa nhà cho N để ngày 20/6/2023 N đến mở cửa, dọn dẹp.
Khi dọn dẹp đến phòng ngủ của vợ chồng bà T2, N có lau dọn chiếc tủ đồ, lúc mở cửa ở phần cuối tủ để lau dọn thì N thấy cửa tủ không khóa, trong ngăn thứ 2 từ trên xuống có các xấp tiền mệnh giá 2.000đ (hai ngàn đồng) và hai xấp tiền mệnh giá 500.000 (năm trăm ngàn đồng) được cột bằng dây thun màu vàng được để trên các xấp tiền mệnh giá 10.000đ (mười ngàn đồng). Do đang khó khăn nên N đã lấy hai xấp tiền mệnh giá 500.000 (năm trăm ngàn đồng) rồi bỏ vào túi quần bên phải. Nở tiếp tục nhìn ngăn trên cùng thì thấy có nhiều hộp trong đó có 02 cái hộp hình tròn màu đỏ, nghĩ trong các hộp trên sẽ có tài sản nên N đã lấy 01 cái hộp màu đỏ rồi mở ra xem thì thấy bên trong hộp có 01 sợi dây chuyền màu trắng, mặt dây chuyền đính hạt màu trắng, nghĩ sợi dây chuyền bằng vàng trắng nên N lấy bỏ vào túi quần bên phải, còn cái hộp Nở để lại vị trí cũ. Sau đó N tiếp tục dọn dẹp đến 11 giờ 30 phút thì N về nhà.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/6/2023, N đến quán C, địa chỉ: Số H Hồ T, phường P, thành phố B để trả tiền cho bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm: 1954, nơi cư trú: Ấp P, xã T, thành phố B, tại đây Nở lấy 01 (một) xấp tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) trộm cắp được ra đếm thì được số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), N đã đem trả cho bà L 10.000.000đ (mười triệu đồng). Sau đó, N tiếp tục đến tiệm C1 tại phường L chuộc 01 sợi dây chuyền và 02 chiếc nhẫn, N lấy 01 (một) xấp tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) trộm cắp được ra đếm thì được số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) N đã trả 7.000.000đ (bảy triệu đồng) cho tiệm để chuộc số tài sản trên.
Đến 14 giờ ngày 20/6/2023, N mang sợi dây chuyền đã trộm cắp được của chị T2 đến tiệm V gặp anh Văn Tân T3, sinh năm 1975, nơi cư trú: Số A M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để cầm đồ được 11.000.000đ (mười một triệu đồng). N tiếp tục chạy đến chỗ tiệm T4 để chuyển số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) vào tài khoản 99555666868 của N mở tại ngân hàng Q (M). Đến 14 giờ 30 cùng ngày N tiếp tục đến nhà của chị T2 để dọn dẹp, đến gần 16 giờ thì xong rồi N đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ 00 phút, N sử dụng ứng dụng Internet Banking của số tài khoản 99555666868 chuyển số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) cho chị Lê Thị Bích L1 (tên thường gọi là H), sinh năm: 1983, nơi cư trú: khu phố E, phường P, thành phố B. Do đó trong tài khoản 99555666868 của N mở tại ngân hàng Q còn 10.000.000đ (mười triệu đồng) và Nở giữ 2.000.000đ (hai triệu đồng). Nở đã rút tiền từ tài khoản và giao nộp số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) cho Cơ quan CSĐT. Ngày 21/6/2023, N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên. Đến ngày 23/6/2023, N giao nộp thêm số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
Ngày 13/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định trưng cầu Trung tâm K chất lượng 3 giám định đối với 01 sợi dây kim loại màu trắng kèm theo 02 mặt kim loại hình giọt nước có đính hạt màu trắng.
Tại chứng thư giám định số 00582/N1.23/TD ngày 17/10/2023 của Trung tâm K chất lượng 3 xác định:
- Tên gọi: dây chuyền và mặt dây chuyền bằng hợp kim vàng, bề mặt mạ R (Rh), có đính đá.
- Khối lượng: 15,9769g (gram)
Tại Kết luận định giá tài sản số 211 ngày 23/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố B, kết luận 01 (một) dây chuyền và mặt dây chuyền bằng hợp kim vàng, bề mặt mạ R (Rh), có đính đá, khối lượng: 15,9769g (gram) có giá trị 21.585.000đ (hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi lăm ngàn đồng).
Ngày 21/6/2023, bà Nguyễn Thị Thúy L giao nộp: 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), bà Lê Thị Bích L1 giao nộp: 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm ngàn đồng). Ông Văn Tân T3 giao nộp: 01 sợi dây kim loại màu trắng kèm theo 02 mặt kim loại hình giọt nước có đính hạt màu trắng. Bà Nguyễn Thị Thúy L, bà Lê Thị Bích L1, ông Văn Tân T3 không biết các tài sản trên do Nguyễn Thị Thu N phạm tội mà có.
Việc thu giữ và xử lý vật chứng
- Tạm giữ của bị can Nguyễn Thị Thu N:
- + Tiền mặt: 19.000.000đ (mười chín triệu đồng).
- + 01 (một) giấy cầm đồ tại Dịch vụ cầm đồ Công Thành B.
- + 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Q (M), số serial: X0DTR69.
- Bà Nguyễn Thị Thúy L giao nộp: 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
- Chị Lê Thị Bích L1 giao nộp: 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm ngàn đồng).
- Ông Văn Tân T3 giao nộp: 01 (một) sợi dây kim loại màu trắng kèm theo 02 mặt kim loại hình giọt nước có đính hạt màu trắng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng đối với số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), 01 sợi dây kim loại màu trắng kèm theo 02 mặt kim loại hình giọt nước có đính hạt màu trắng bằng hình thức trả lại cho bà Trần Thị Thu T2, ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu đối với số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng) bằng hình thức trả lại cho ông Văn Tân T3.
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Trần Thị Thu T2, bà Nguyễn Thị Thúy L, chị Lê Thị Bích L1, ông Văn Tân T3 không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 140/2023/HSST ngày 26-12-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 26/12/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thu N kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật, mức án đã tuyên phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ xin giảm hình phạt. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu N gửi trong thời hạn luật định, phù hợp về chủ thể, nội dung kháng cáo nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 20/6/2023, tại nhà số B P, phường L, thành phố B, Nguyễn Thị Thu N lén lút lấy trộm số tiền 20.000.000 đồng và 01 sợi dây chuyền màu trắng, có mặt dây chuyền đính hạt màu trắng trị giá 21.585.000 đồng của bà Trần Thị Thu T2. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 41.585.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, hành vi còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày gia đình có công với cách mạng, có ông nội, ông ngoại là liệt sỹ nhưng chỉ cung cấp tài liệu là bản phô tô nên không có căn cứ xem xét tình tiết này cho bị cáo. Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 19.000.000 đồng để trả lại cho bị hại, khắc phục hậu quả vụ án do vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm quyết định xử phạt bị cáo N 01 năm tù là phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Xét bị cáo là phụ nữ có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu do bột phát nhất thời; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính, đã ly hôn chồng, trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà xem xét chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự, áp dụng Điều 65 bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích và không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo N.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị Thu N, sửa Bản án sơ thẩm số 140/2023/HSST ngày 26-12-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Thu N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 16-4-2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu N cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2023/HSST ngày 26-12-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 43/2024/HS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 43/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu N Trộm cắp tài sản
