Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 43/2024/HS- ST

Ngày: 15 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Chu Quang Liêm
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức C, sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Hải Dương.; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Đức H và bà Nguyễn Thị M (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Tình T và 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 24/2022/HS-ST ngày 27/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ xử phạt Nguyễn Đức C 35.000.000 đồng về tội "Đánh bạc", C đã thi hành xong ngày 25/11/2022.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 03/01/2024, thì chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh H

- Người làm chứng:

  1. Anh Lê Gia H1, sinh ngày 29/11/2007;
  2. Người đại diện hợp pháp cho anh H1: Ông Lê Đức T1, sinh năm 1982

  3. Chị Vương Lệ Q, sinh năm 2005.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo C. Vắng mặt anh H1, ông T1, chị Q).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức C là người sử dụng ma tuý tổng hợp. Khoảng đầu tháng 12/2023, C mua được 06 túi ma tuý tổng hợp với số tiền 700.000 đồng của một người đàn ông không quen biết ở khu vực xã N, thành phố H mang về nhà cất giấu để sử dụng dần. C đã sử dụng hết 01 túi, số còn lại cất giấu trong ngăn bàn học cũ ở phòng khách. Khoảng 20 giờ ngày 26/12/2023, C bảo anh Lê Gia H1, sinh ngày 29/11/2007, có HKTT thôn T, xã B, huyện T sang thôn Đ, xã B đón chị Vương Lệ Q, sinh năm 2005, có HKTT: Thôn Đ, xã B, huyện S, TP. Hà Nội đến nhà C chơi. Trong lúc H1 đi đón chị Q, C lấy từ trong ngăn bàn học 01 túi nilon chứa ma tuý rồi đổ một phần ma tuý vào bầu cóong thuỷ tinh, số ma túy còn lại trong túi nilon C dùng bật lửa hàn kín đầu túi nilon, mục đích để sử dụng cho lần sau và C cất gói ma túy trên vào trong túi nilon to hơn cùng với 04 túi nilon chứa ma túy khác. Tiếp đó, C dùng bật lửa gas để hơ vào bầu cóong thuỷ tinh để đốt nóng chảy chất ma túy và C hút được 02 lần, thì anh H1 chở chị Q về đến cổng. C cất bộ dụng cụ đang sử dụng ma tuý đá và túi nilon to chứa 05 túi ni lon nhỏ chứa ma tuý vào ngăn bàn học rồi ra mở cổng cho H1Q. Khi cả 3 đi vào trong nhà, C lấy bộ dụng cụ vừa sử dụng ma tuý ra để sử dụng tiếp. C nói với H1Q “Có làm cái không”, ý C rủ H1Q cùng sử dụng ma tuý, Q từ chối còn H1 đồng ý. C dùng bật lửa hơ vào bầu coóng thuỷ tinh cho H1 sử dụng. H1 hút một hơi ma tuý thì không sử dụng nữa, còn C tiếp tục sử dụng ma tuý một mình. Đến khoảng 21 giờ 25 phút cùng ngày, khi C đang sử dụng ma tuý tại phòng khách thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện T phát hiện vào kiểm tra. Do sợ hãi nên C đã tháo chiếc coóng thuỷ tinh, ống hút ra khỏi chiếc chai nhựa rồi đổ hết nước trong chai ra ngoài, cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã tháo rời và mở ngăn bàn học lấy chiếc túi nilon bên trong chứa 05 túi nilon ma tuý và 01 vỏ túi nilon rồi chạy vào trong phòng ngủ, vứt bộ D sử dụng ma tuý cùng túi nilon chứa ma tuý ra ngoài sân qua lỗ ô thoáng. Lực lượng Công an đã thu giữ tại vị trí giáp tường phía đông bên ngoài phòng ngủ 01 túi nilon mầu trắng kích thước (8x5)cm, bên trong chứa 01 túi nilon mầu trắng kích thước (6,2x4)cm, bên trong túi chứa 01 vỏ túi nilon mầu trắng và 05 túi nilon mầu trắng chứa ma tuý tổng hợp dạng đá; 01 coóng thủy tinh bị gãy làm 03 đoạn, bên trong có bám dính các hạt tinh thể mầu trắng; 01 ống hút nhựa mầu trắng; 01 vỏ chai nhựa mầu trắng, nắp chai bằng nhựa mầu vàng, trên nắp chai đục 02 lỗ; 01 bật lửa gas mầu xanh, 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max, vỏ mầu vàng, lắp sim số: 0816.332.333 và lập biên bản bắt người phạm tôi quả tang đối với C ( bút lục số 44-59).

Kết quả xét nghiệm ngày 27/12/2024 xác định: Trong nước tiểu của Nguyễn Đức C, Lê Gia H1 dương tính với chất ma túy Methamphetamine (Bút lục số 86, 89)

Tại bản kết luận giám định số 54/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của phòng K Công an tỉnh H (Bút lục số 37) kết luận:

  • Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong 05 túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì đánh số ký hiệu 01 gửi đến giám định, tổng khối lượng là 0,530 gam là ma túy, loại Methamphetamine
  • Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong các đoạn ống thủy tinh bị gãy làm 03 đoạn và trong bầu coong thủy tinh, được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSTK, ngày 16/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ để xét xử đối với Nguyễn Đức C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa:

  • Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX ): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 BLHS đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội từ 08 năm 03 tháng tù đến 08 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.
  • Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.
  • Bị cáo Nguyễn Đức C thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với chiếc điện thoại bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên bị cáo đề nghị được nhận lại và đề nghị cho chị gái bị cáo là Nguyễn Thị M1, sinh năm 1987, địa chỉ thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương nhận thay bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 26/12/2023 tại nhà ở của mình ở Thôn T, xã B, huyện T Nguyễn Đức C đã có hành vi cung cấp trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, dụng cụ sử dụng ma túy để cho Lê Gia H1, sinh ngày 29/11/2007 ở cùng thôn sử dụng ma túy. Ngoài ra C còn có hành vi cất giấu trái phép tại ngăn bàn học tại phòng khách 0,530 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho lần sau, thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Trong vụ án, bị cáo thực hiện 02 hành vi gồm hành vi cất giấu 0,530 gam ma túy loại Methamphetamine và hành vi sử dụng nhà ở của mình, chuẩn bị dụng cụ, cung cấp ma túy loại Methamphetamine cho Lê Gia H1 là người dưới 18 tuổi sử dụng ma túy nên hành vi của bị cáo phạm 02 tội đó là Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tình tiết định khung "Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 BLHS. Do đó, Cáo trạng của VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khỏe cho chính người sử dụng mà và còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích để thoả mãn bản thân và ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật song vẫn cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như có tác dụng phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 0,470 gam ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 05 vỏ túi nilon màu trắng là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 cóong thủy tinh bị gãy làm 03 đoạn, trong đó có 02 đoạn hình trụ tròn, đoạn thứ 3 gắn liền với bầu cóong, 01 vỏ phong bì đánh số ký hiệu 02 niêm phong mẫu vật gửi giám định; 03 vỏ túi nilon; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 vỏ chai nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga màu xanh là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max có ốp lưng bằng nhữa, lắp sim số 0816332333 của bị cáo C, tuy nhiên bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[8] Trong vụ án, đối với người bán ma túy cho C, quá trình điều tra không làm rõ được tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 BLHS

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu T1 của phòng K Công an tỉnh H bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,470 gam ma túy loại Methamphetamine, 05 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì đánh số ký hiệu 01 niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 phong bì ký hiệu T2 của phòng K Công an tỉnh H bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 cóong thủy tinh bị gãy làm 03 đoạn, trong đó có 02 đoạn hình trụ tròn, đoạn thứ 3 gắn liền với bầu cóong, 01 vỏ phong bì đánh số ký hiệu 02 niêm phong mẫu vật gửi giám định; 03 vỏ túi nilon; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 vỏ chai nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga màu xanh
  • Trả lại bị cáo Nguyễn Đức C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max có ốp lưng bằng nhựa trong suốt, lắp sim số 0816332333 do chị gái bị cáo là Nguyễn Thị M1, sinh năm 1987, địa chỉ thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương nhận thay bị cáo.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 16/4/2024 ).

3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016 của UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 BLTTHS. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/5/2024.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Hải Dương;
  • Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • VKSND huyện Tứ Kỳ;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • Công an huyện Tứ Kỳ;
  • Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ;
  • Bị cáo;
  • Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS- ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 43/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức C - Phạm tội Tổ chức SDTPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger