Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-PT

Ngày: 14 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn

Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/HSPT ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Lê Tự T do có kháng cáo của bị hại là chị Nguyễn Thị N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HSST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

1. Bị cáo: Lê Tự T, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1965, tại Thái Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tự B (liệt sỹ) và bà Nguyễn Thị T1; vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1973, có 03 con; nhân thân: Bản án số 1255/HSPT ngày 26/7/2001, Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo 12 năm tù về tội “Giết người”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và án phí; Bản án số 13/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (hành vi xảy ra vào ngày 13/5/2023); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 03/01/2023, Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình xử phạt

vi phạm hành chính về hành vi “Vô ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng, đã nộp tiền phạt theo quy định ngày 28/12/2023; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2024 đến nay, có mặt.

2. Bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 25/10/2023, Lê Tự T đang ở nhà thì thấy mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1 cùng các em là Nguyễn Thị T2; Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Thị H đến nhà bà T1 (ở cạnh nhà T3) để đòi lại nhà do ông Nguyễn Văn M (là người chung sống như vợ chồng với bà T1 từ năm 1973 đến năm 1985) và chị Nguyễn Thị N (là con chung của bà T1 và ông M) chiếm giữ. Khi bà T1 và các con đến, trong nhà có ông M và cháu Nguyễn Thị Ngọc Á (là con gái của chị N) đang ở trong nhà. Do ông Mã đ và khóa cửa nên bà T1 không vào nhà được mà đứng ngoài cãi, chửi nhau với ông M, yêu cầu ông M mở cửa. Bà T1 dùng tay giật cửa sắt, ông M ở trong nhà cầm 01 con dao loại dao thái dài 34 cm, cán bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm, bản rộng 3,5cm đe dọa và lấy cát ném vào người bà T1. Sau đó chị N đi xe đạp về đến trước cửa nhà bà T1, bà T1 yêu cầu chị N mở cửa để bà T1 vào nhà nhưng chị N không mở và đến Công an thị trấn H, huyện H trình báo sự việc. Trong khi bà T1 chửi bới thì Lê Tự T lấy ở gầm bàn của nhà mình 01 chiếc xà cầy bằng kim loại hình trụ dài 74 cm, đường kính 02 cm, đi lên tầng 2 nhà mình rồi trèo sang mái nhà bà T1, dùng xà cầy đập vỡ 01 chiếc camera nhãn hiệu HC3- Viettel Digital, màu trắng và 01 chiếc đèn Led nhãn hiệu Daolai Ø90-5W Rạng Đông, màu trắng của chị N lắp ở nhà bà T1 trước đó.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38 ngày 30/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: “01 chiếc camera nhãn hiệu HC3- Viettel Digital, màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại ngày 25/10/2023 có giá trị thành tiền là 800.000 đồng; 01 chiếc đèn Led nhãn hiệu Daolai Ø90-5W Rạng Đông, màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm bị xâm hại ngày 25/10/2023 có giá trị thành tiền là 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 850.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 1692/KL- KTHS ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung, hình ảnh của 24 tập tin video gửi giám định. Hình ảnh, diễn biến liên quan đến vụ việc trong tập tin video gửi giám định được trích xuất, mô tả trong phụ lục kèm theo Kết luận giám định”.

Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HSST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tự T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, s, x khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Tự T 07 (bảy) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 08 (tám) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST, ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 16/01/2024.
  3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 357, Điều 584, Điều 585, Điều 586 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị N số tiền 850.000 đồng. Chuyển số tiền 850.000 đồng bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002309, ngày 10/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để trả cho chị N.

Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại.

Ngày 28/4/2024, bị hại là chị Nguyễn Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Bị hại xác định ngày 25/10/2023, bị cáo T đã huỷ hoại 01 Camera và 01 đèn led của nhà bị hại và giá trị lắp các tài sản này là 1.950.000 đồng nên bị cáo T phải bồi thường đúng giá trị của các tài sản này khi bị hại lắp đặt. Tuy nhiên, bị hại không đồng ý với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại vụ án, bởi ngoài hành vi huỷ hoại tài sản ngày 25/10/2023, bị cáo T còn dùng nhiều hung khí nguy hiểm khác như búa, kìm để huỷ hoại tài sản và áp đáo tại gia để đe doạ giết chị N và người nhà chị.

Bị cáo Lê Tự T trình bày: Lời khai của bị hại tại phiên tòa là vu cáo đối với bị cáo, toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã được camera ghi lại và cung cấp trong hồ sơ vụ án nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xem xét nội dung kháng cáo của bị hại, đề nghị: Kháng cáo của chị Nguyễn Thị N không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của chị N, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm và buộc chị N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không tranh luận gì.

Bị hại tranh luận: Chị N không đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại đối với hành vi của bị cáo Lê Tự T.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo đã đúng người, đúng tội nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị N, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của chị Nguyễn Thị N làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Xét kháng cáo của bị hại:
    1. Về hành vi phạm tội của bị cáo T: Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 25/10/2023, tại nơi ở của chị Nguyễn Thị N ở tổ dân phố N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Lê Tự T có hành vi sử dụng 01 (một) thanh xà cầy bằng kim loại hình trụ dài 74cm đập vỡ 01 chiếc camera nhãn hiệu HC3- Viettel Digital, màu trắng và 01 chiếc đèn Led nhãn hiệu Daolai Ø90-5W Rạng Đông, màu trắng của chị Nguyễn Thị N. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 850.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Tự T về tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự, trị an xã hội. Bị cáo biết rõ việc hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện là thể hiện sự coi thường pháp luật. Giá trị tài sản bị cáo huỷ hoại tài sản dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã có một tiền sự chưa được xoá về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên tiền sự này xác định là tình tiết định khung cấu thành tội “Huỷ hoại tài sản” đối với bị cáo. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, đã bị xét xử nhiều lần về các hành vi khác nhau nhưng bị cáo vẫn không chịu cải tạo, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại; bị cáo có bố đẻ là Liệt sỹ nên bị cáo được áp dụng những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại b, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Lê Tự T 07 (bảy) tháng tù là hoàn toàn phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án nhưng không đưa ra được căn cứ nào cho kháng cáo của mình, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại.
    2. Đối với kháng cáo của chị N về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị trị giá tài sản 01 chiếc camera và 01 chiếc đèn Led theo giá mới lắp đặt, số tiền là 1.950.000 đồng. Xét thấy chị N khai chị lắp 01 chiếc camera và 01 chiếc đèn Led vào đầu năm 2023, đến thời điểm tài sản bị hủy hoại là tháng 10/2023, vì vậy tài sản đã bị khấu hao nên Hội đồng định giá định giá tài sản tại thời điểm bị xâm hại trừ đi giá trị đã bị khấu hao nên kết luận tài sản có giá là 850.000 đồng là đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của chị N.
  3. Về án phí: Chị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Chị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại chị Nguyễn Thị N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 33/2024/HSST ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
    1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tự T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
    2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178; điểm b, s, x khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Tự T 07 (bảy) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 08 (tám) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST, ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 16/01/2024.
    3. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 357, Điều 584, Điều 585, Điều 586 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị N số tiền 850.000 đồng. Chuyển số tiền 850.000 đồng bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002309 ngày 10/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để trả cho chị N.

      Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ nếu bị cáo không thi hành khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

      Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

    4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh xà cầy bằng kim loại hình trụ dài 74 cm, đường kính 02 cm, một đầu bẹt, một đầu còn lại bẹt, cong chẻ đôi đã qua sử dụng; 01 con dao thái dài 34 cm, cán bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21 cm, bản rộng 3,5 cm đã qua sử dụng; 01 mắt camera nhãn hiệu HC3 -Viettel Digital màu trắng đã bị nứt vỡ, chân camera bị vỡ, hư hỏng hoàn toàn; 01 bát đèn led nhãn hiệu Daolai phi I R, màu trắng bị vỡ và 01 chân đèn led màu trắng bị méo, móp, hư hỏng hoàn toàn.

      Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/3/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

    5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Tự T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 14 tháng 6 năm 2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng HS CA tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND, CA huyện Hưng Hà;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội "hủy hoại tài sản"

  • Số bản án: 43/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội "Hủy hoại tài sản"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Tự Tuấn phạm tội "Huỷ hoại tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger