|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14-6-2024 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Loan Em.
Ông Hứa Phận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Ni, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Thị L, sinh ngày 01/01/1995; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng).
- Bị đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh ngày 01/01/1990; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/02/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Lý Thị L trình bày: Bà và ông Đ tự nguyện sống chung với nhau, làm thủ tục đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 01/12/2017. Vợ chồng có 01 người con chung là Phan Lý Ngọc H, sinh ngày 15/9/2018. Trong thời gian sống chung không phát sinh mâu thuẫn, đến khoảng tháng 8/2023 do bà bệnh viêm phế quản và thiếu máu não phải về quê điều trị còn ông Đ tiếp tục đi làm, từ đó ông Đ không còn liên lạc với bà, đồng thời ông Đ có quan hệ tình cảm với người khác và đăng hình thân mật trên facebook. Do vợ chồng đã thời gian dài không liên lạc với nhau, bà không còn tình cảm và muốn kết thúc mối quan hệ này. Bà khởi kiện yêu cầu giải quyết được ly hôn với ông Đ và được nuôi con chung Phan Lý Ngọc H đến trưởng thành, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Các vấn đề về nợ chung và tài sản chung thì không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Phan Văn Đ vắng mặt, quá trình giải quyết có văn bản trình bày ý kiến: Ông thống nhất với nội dung trình bày của bà L, về hôn nhân thì ông đồng ý ly hôn và giao cho bà L nuôi con chung Phan Lý Ngọc H đến tuổi trưởng thành, ông không phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L được ly hôn với ông Đ và giao con chung Phan Lý Ngọc H cho bà L nuôi dưỡng, các vấn đề khác không có yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết là đúng theo qui định tại 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về hôn nhân: Bà L và ông Đ tự nguyện kết hôn, làm thủ tục đăng ký kết hôn và được được UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, bà L có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và đến nay không có yêu cầu rút đơn khởi kiện. Xét thấy, giữa vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau nhưng thực tế giữa bà L với ông Đ không sống chung với nhau, ông Đ cũng đồng ý ly hôn với bà L. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L được ly hôn với ông Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Bà L và ông Đ có một người con chung là Phan Lý Ngọc H sinh ngày 15/9/2018. Xét thấy, bà L có yêu cầu nuôi con chung và cháu Ngọc H đang sống với bà L, đồng thời ông Đ đồng ý giao con cho bà L nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Ngọc H cho bà L nuôi dưỡng, ông Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Về cấp dưỡng cho con, bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
[4] Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, nguyên đơn bà Lý Thị L phải chịu theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện T là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Lý Thị L được ly hôn với ông Phan Văn Đ.
- Về con chung: Giao con chung tên Phan Lý Ngọc H, sinh ngày 15/9/2018 cho bà Lý Thị L nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Ông Phan Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở ông Đ thực hiện quyền này.
- Về cấp dưỡng cho con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Bà Lý Thị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000535 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, bà L đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Mai |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu, bà L được ly hôn với ông Đ