|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14/6/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Qui
Bà Trịnh Thị Trúc Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân
dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 tháng 5 năm 2024 và ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 12/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phan Giác T, sinh năm 1993 (có mặt)
- Bị đơn: Chị Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1995 (có mặt)
Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Phan Giác T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị N tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 23/02/2017.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ lẫn nhau, ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của gia đình. Nhận thấy, đời sống chung không thể hòa hợp và duy trì được nữa, đã không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Anh T và chị N có 01 con chung tên Nguyễn Lê Anh T1, sinh ngày 13/4/2018, giới tính: nữ hiện nay đang sống chung với gia đình anh T. Sau khi ly hôn anh T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Về điều kiện nuôi con: Hiện nay anh T đang làm nghề tiếp thị hóa mỹ phẩm, thu nhập hơn 11.000.000 đồng/tháng, đi làm gần nhà, con chung đang đi học tại trường H do gia đình anh T đưa đón. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa bị đơn chị Lê Thị Tuyết N trình bày: Chị N thống nhất phần trình bày của anh T về thời gian kết hôn ngày 23/02/2017. Vợ chồng vẫn thường xuyên tới lui, lúc kết thúc dịch Covid-19 thì chị N có đi làm công ty, hiện nay đã nghỉ việc ở công ty chuyển sang kinh doanh mua bán trái cây và hoa, thu thập trung bình mỗi tháng từ 8.000.000 đồng, kinh doanh ở thị trấn C, huyện C không có đăng ký tạm trú, tạm vắng tại nơi kinh doanh. Thông thường chị N ở tại chỗ buôn bán, ngày lễ thì mới về với con. Thường ngày con ở khu vực 5, phường T chung với gia đình anh T. Chị N thống nhất ly hôn với anh T. Về con chung, chị N yêu cầu nuôi con chung Nguyễn Lê Anh T1, sinh ngày 13/4/2018, giới tính: nữ, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Phan Giác T. Anh Nguyễn Phan Giác T được ly hôn với chị Lê Thị Tuyết N. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Lê Anh T1, sinh ngày 13/4/2018, giới tính: nữ cho anh Nguyễn Phan Giác T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Lê Thị Tuyết N chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Lê Thị Tuyết N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trình tự, thủ tục: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã L nên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phan Giác T và chị Lê Thị Tuyết N tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 23/02/2017 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét nguyên nhân yêu cầu ly hôn, anh T cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ lẫn nhau, ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của gia đình, cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay. Chị N cho rằng, vợ chồng vẫn thường xuyên tới lui, lúc kết thúc dịch Covid-19 thì chị N có đi làm công ty, hiện nay đã nghỉ việc ở công ty chuyển sang kinh doanh mua bán trái cây và hoa. Giữa chị N và anh T không có mâu thuẫn gì lớn. Tuy nhiên, chị N cũng thống nhất ly hôn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa anh T và chị N đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh T.
[2.2] Về con chung: Anh T và chị N có 01 con chung tên Nguyễn Lê Anh T1, sinh ngày 13/4/2018, giới tính: nữ, hiện nay đang sống chung với anh T. Anh T và chị N đều yêu cầu nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận định:
[2.2.1] Xét về điều kiện thu nhập: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Phan Giác T cung cấp giấy xác nhận đang làm việc tại công ty TNHH T2 cũng như sao kê tài khoản thu nhập trung bình mỗi tháng hơn 10.000.000 đồng. Đối với chị Lê Thị Tuyết N khai đang kinh doanh mua bán trái cây và hoa, thu thập trung bình mỗi tháng từ 8.000.000 đồng ở thị trấn C, huyện C nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng có có trong hồ sơ vụ án thì anh T chứng minh được điều kiện thu nhập ổn định hơn so với chị N.
[2.2.2] Xét về điều kiện chỗ ở: Quá trình giải quyết vụ án xác định nguyên đơn anh T có chỗ ở ổn định hơn so với chị N. Anh T đang sống chung với gia đình anh T tại khu V, phường T, thị xã L, trong khi đó chị N thừa nhận thường ngày chị N sinh sống tại chỗ kinh doanh ở thị trấn C, huyện C, đồng thời cũng không có đăng ký tạm trú, tạm vắng tại nơi kinh doanh.
[2.2.3] Xét về điều kiện đi lại, học tập, thời gian trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Anh T và chị N đều thống nhất, hiện nay, con chung Nguyễn Lê Anh T1 đang học tập tại trường H, gần nơi gia đình anh T sinh sống, môi trường học tập đã ổn định. Chị N cũng thừa nhận, gia đình anh T vẫn tạo điều kiện chăm sóc tốt cho con chung. Điều này cũng phù hợp với xác nhận tại chính quyền địa phương thể hiện địa phương không nhận được phản ánh việc anh T đánh đập, hành hạ trẻ em. Ngoài ra, theo xác nhận tại trường H nơi Anh Thư học tập thể hiện thông thường Anh Thư được gia đình anh T đưa đón đi học, trong quá trình học, Anh T1 học tốt, tâm lý ổn định, không có gì bất thường, học phí do phía gia đình anh T trực tiếp nộp.
[2.2.4] Từ những phân tích nêu trên, để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung Nguyễn Lê Anh T1, sinh ngày 13/4/2018, giới tính: nữ cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Chị N chưa phải cấp dưỡng nuôi con; chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện nộp số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Phan Giác T.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phan Giác T và chị Lê Thị Tuyết N được ly hôn.
- Về con chung: Anh Nguyễn Phan Giác T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Lê Anh T1, sinh ngày 13/4/2018, giới tính: nữ. Chị Lê Thị Tuyết N chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Lê Thị Tuyết N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Phan Giác T, chị Lê Thị Tuyết N khai không có nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Nguyễn Phan Giác T tự nguyện nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007770 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Anh Nguyễn Phan Giác T đã nộp xong án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn anh Nguyễn Phan Giác T, bị đơn chị Lê Thị Tuyết N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thanh Quyền |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
