Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 14-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tới.

Bà Nguyễn Kim Lên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Trương Chí Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo: Thái Trọng T, sinh năm 2001 tại tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Hữu L và bà Trương Thị Đ; bị cáo chưa vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Hồ Minh K, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp X, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ ngày 27/8/2023, sau khi đi nhậu xong Thái Trọng T điều khiển xe máy chở bạn là Đặng Huỳnh N về nhà, trên đường về thì hai bên cải nhau nên Thái Trọng T cho xe dừng lại nhà nội của Thái Trọng T ở ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nhưng hai bên vẫn tiếp tục cự cải. Thái Trọng T lấy một ống kim loại màu trắng dài 30cm, đường kính 3cm rượt đuổi đánh Đặng Huỳnh N nên chị N chạy vào nhà của bà M để trốn. Thái Trọng T vào nhà bà M không được nên dùng ống kim loại đập vào vách nhà và hàng rào nhà của bà M đang ở nhưng không gây thiệt hại gì lớn. Sau đó, Thái Trọng T đi đến nhà của ông Võ Thanh B1 tìm kiếm nhưng không gặp chị N nên Thái Trọng T đi ra ngoài lộ và thấy xe ô tô huynhdai biển kiểm soát 69A-059.00 của anh Hồ Minh K chạy đỗ gần đó. Lúc này, Thái Trọng T dùng ống kim loại đập gẫy gương chiếu hậu bên trái xe, đập móp cửa trước bên trái xe, dùng tay giật gãy tay cửa trước bên trái xe, dùng chân đạp vào nắp cabô phía trước xe và dùng tay bẻ biển số xe vứt xuống sông.

Tại Kết luận định giá tài sản số 43/KL-ĐGTS ngày 05/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện T xác định tổng giá trị tài sản bị thiệt hại 7.549.200 đồng.

Quá trình điều tra Thái Trọng T đã bồi thường thiệt hại về tài sản và chi phí khắc phục thiệt hại cho anh Hồ Minh k với số tiền 18.000.000 đồng.

Tài sản thu giữ gồm một ống kim loại màu trắng dài 30cm, đường kính 3cm.

Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1 truy tố bị cáo Thái Trọng T về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Ý kiến bị hại Hồ Minh K yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu thêm về phần dân sự.

Bà Nguyễn Thị B không có yêu cầu gì đối với một ống kim loại màu trắng dài 30cm, đường kính 3cm do bị cáo dùng để đập phá xe của anh K.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 03 đến 09 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu hủy một ống kim loại màu trắng dài 30cm, đường kính 3cm.

Đối với bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, yêu cầu Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo và xin được tại ngoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1, Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng đảm bảo thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc yêu cầu gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên được xác định là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi dùng ống kim loại màu trắng dài 30cm, đường kính 3cm và dùng tay, chân đập phá xe ô tô của anh Hồ Minh K gây thiệt hại theo định giá 7.549.200 đồng, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản của anh K 7.549.200 đồng là hành vi vi phạm pháp luật, với giá trị tài sản bị thiệt hại nêu trên thì hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội chẳng những xâm phạm trực tiếp đối với tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương, vi phạm pháp luật hình sự cần phải được xử lý. Bị cáo nhận thức rõ tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác không ai có quyền xâm hại một cách trái pháp luật thế nhưng chỉ vì sự bực tức cá nhân không đáng có nên bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do chính bị cáo gây ra.

[4] Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng xét hành vi của bị cáo thể hiện tính ngang ngược, bất chấp, xem thường pháp luật, do đó không cho bị cáo hưởng áo treo mà áp dụng hình phạt tù có thời hạn để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 54 của Bộ Luật Hình sự theo ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Phần tài sản bị thiệt hại đã bồi thường xong nên không đặt ra.

[6] Đối với một ống kim loại màu trắng dài 30cm, đường kính 3cm được xác định là vật chứng trong vụ án do bị cáo lấy trong nhà của bà Nguyễn Thị B nhưng bà B không có yêu cầu nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định.

[7] Do bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Bị cáo và người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, 1, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phạt bị cáo Thái Trọng T 04 tháng tù về Tội cố ý làm hư hỏng tài sản, thời hạn chấp hành tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Tịch thu và tiêu hủy một ống kim loại màu trắng dài 30cm, đường kính 3cm (Tài sản hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời quản lý theo biên bản giao nhận ngày 06/02/2024).

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Bị có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Nhà tạm giữ Công an nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về hình sự sơ thẩm (tội cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger