|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 13-6-2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Bông và bà Lê Thị Chung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông K'Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Châu Thị Mỹ H (tên khác: C), sinh năm 1991. Địa chỉ: Số nhà A, đường L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị đơn: Ông Mai Văn S, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số A, Thôn H, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2024, trong quá trình xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn bà Châu Thị Mỹ H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Mai Văn S kết hôn ngày 14 tháng 4 năm 2021, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Trước khi kết hôn vợ chồng có tìm hiểu nhau khoảng một năm, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông S hay bỏ nhà đi về gia đình ông S ở xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, không chăm lo cho gia đình. Từ tháng 01 năm 2024 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu ly hôn ông Mai Văn S, việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Mai Tuệ A, sinh ngày 14-4-2022, hiện nay bà H không mang thai. Khi ly hôn bà H yêu cầu giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, yêu cầu ông Mai Văn S phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, nợ riêng: đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Ngoài ra, bà H không yêu cầu gì khác.
Quá trình tố tụng và tại phiên toà ông Mai Văn S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Châu Thị Mỹ H kết hôn ngày 14 tháng 4 năm 2021, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Trước khi kết hôn vợ chồng có tìm hiểu nhau khoảng một năm, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hiểu nhau, nhưng chưa đến mức phải ly hôn. Từ tháng 01 năm 2024 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn, do ông muốn vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con chung.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Mai Tuệ A, sinh ngày 14-4-2022. Trường hợp ly hôn thì ông đồng ý giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Mai Văn S đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, nợ riêng: đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Ngoài ra, ông S không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Châu Thị Mỹ H và ông Mai Văn S ly hôn. Về con chung: Giao con chung Mai Tuệ A, sinh ngày 14-4-2022 cho bà Châu Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Mai Văn S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 7 năm 2014 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà H và ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Châu Thị Mỹ H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Mai Văn S. Ông Mai Văn S hiện đang cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Châu Thị Mỹ H và ông Mai Văn S tự nguyện kết hôn ngày 14-4-2021, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Châu Thị Mỹ H và ông Mai Văn S là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Châu Thị Mỹ H yêu cầu được ly hôn với ông Mai Văn S là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Châu Thị Mỹ H và ông Mai Văn S có một con chung là Mai Tuệ A, sinh ngày 14-4-2022, hiện nay đang sống cùng với bà Châu Thị Mỹ H. Khi ly hôn yêu cầu giao con chung cho bà Châu Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, bà H yêu cầu ông S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi; ông Mai Văn S đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy, cháu Mai Tuệ A, sinh ngày 14-4-2022, dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, bà Châu Thị Mỹ H có thu nhập, việc làm ổn định, có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cần ổn định cuộc sống của con chung nên cần giao con chung cho bà Châu Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Mai Văn S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Tài sản chung; Tài sản nợ chung; Tài sản nợ riêng bà H và ông S xác định đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên không xem xét giải quyết về tài sản.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 2 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm c khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Mỹ H và ông Mai Văn S ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung là Mai Tuệ A, sinh ngày 14-4-2022 cho bà Châu Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Mai Văn S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Về án phí:
Bà Châu Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005706 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà H đã nộp đủ án phí.
Ông Mai Văn S có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bà Châu Thị Mỹ H và ông Mai Văn S có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
- Bản án này được thi hành ngay theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thị Mỹ Lệ |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Châu Thị Mỹ H và ông Mai Văn S
