TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày 12 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hồ Xuân Dũng
2/ Bà Trương Thị Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1329/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn N (tên gọi khác: G), sinh ngày 01 tháng 7 năm 1979 tại A, Bình Định; Nơi thường trú: số E, đường Y, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi ở hiện nay: số nhà B, đường N, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; số CCCD [...]; Nghề nghiệp: Thợ đá; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (chết) và bà Phạm Thị Hồng A (sinh năm 1948); có vợ là Đặng Thị Thu T, sinh năm 1981; Con có 02 người, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: không, tiền sự: Ngày 01/8/2023, bị Công an phường N, thị xã A xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958; địa chỉ: số A, đường N, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn A1 (tên thường gọi: Nguyễn Văn C), sinh năm 1969; địa chỉ: số H Y, khu vực A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978; địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thái V, sinh năm 1960; địa chỉ: số A N, khu vực A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Ông Hà Văn M (tên thường gọi: C1), sinh năm 1980; địa chỉ: số E N, khu vực A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 25/01/2024, trong lúc cùng uống cà phê tại quán cà phê của bà Nguyễn Thị B số A N, phường N, thị xã A thì nhóm đối tượng gồm: Nguyễn Văn A1, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thái V, Hà Văn M thấy trên bàn trong quán của bà B có 01 (một) bộ cờ Domino nên cả nhóm rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh cờ D.
Cách thức chơi như sau: 04 người chơi lấy bộ cờ Domino gồm 28 quân cờ (còn gọi là 28 viên gạch, hình chữ nhật, được làm bằng nhựa), mỗi viên gạch được chia thành hai phần số tương ứng với các số 0 (gọi là trổng), 1 (gọi là nhất), 2 (gọi là nhị), 3 (gọi là tam), 4 (gọi là tứ), 5 (gọi là ngũ), 6 (gọi là lục). Trong đó, 07 (bảy) viên gạch có các cặp số trùng nhau từ 0 đến 6 (0-0, 1-1, 2-2, 3-3, 4-4, 5-5, 6-6, gọi là bò); 05 viên gạch từ ngũ trổng đến ngũ tứ, 04 viên gạch từ tứ trổng đến tứ tam; 03 viên gạch từ tam trổng đến tam nhị; 02 viên gạch từ nhị trổng đến nhị nhất; 01 viên gạch nhất trổng, úp mặt chính của viên gạch lại và xáo trộn các viên gạch, rồi mỗi người thứ tự lấy từng con đến khi mỗi người đều cầm đủ 07 viên gạch. Người nào có cặp bò (6-6) thì được đánh đầu tiên, theo chiều kim đồng hồ người chơi tiếp theo sẽ đánh vào một mặt tương ứng với số của viên gạch đã đánh trước đó, nếu không có viên gạch tương ứng với số của viên gạch trước đó thì bỏ lượt. Ván cờ kết thúc khi có người chơi hết viên gạch trên tay, những người còn lại sẽ tính điểm, số điểm thấp nhất tương ứng lần lượt sẽ về thứ hai, thứ ba và thứ tư. Mỗi ván người nhất thắng
người thua tư số tiền 10.000 đồng, người thứ hai thắng người thua ba số tiền 5.000 đồng.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Nguyễn Văn N đến uống cà phê và cùng tham gia đánh bạc, thay cho ông Nguyễn Thái V (N và V hùn tiền đánh bạc với nhau, nếu thắng hoặc thua thì cả hai chia đôi số tiền); đồng thời cả nhóm thống nhất nâng số tiền thắng thua lên 20.000 đồng và 10.000 đồng. Cả nhóm đánh đến khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày thì bị Công an phường N kiểm tra phát hiện, thu giữ 01 (một) bộ cờ D và số tiền 561.000 đồng dùng vào việc đánh bạc (trong đó, Nguyễn Văn N: 11.000 đồng, Nguyễn Văn T1: 250.000 đồng, Hà Văn M: 180.000 đồng, Nguyễn Văn A1: 120.000 đồng).
Ngày 01/08/2023, bị cáo Nguyễn Văn N bị Công an phường N ra Quyết định xử phạt VPHC về hành vi “Đánh bạc trái phép” với số tiền 1.500.000đồng (đã chấp hành xong). Tính đến thời điểm vi phạm (25/01/2024), bị cáo N chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSAN ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, về điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ C2 (đã qua sử dụng);
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 561.000(năm trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra họ đã cung cấp lời khai. Xét việc vắng mặt của bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn T1 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, thể hiện: khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/01/2024 tại quán cà phê của bà Nguyễn Thị B ở khu V, phường N, thị xã A, bị cáo Nguyễn Văn N cùng Hà Văn M, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn A1, Nguyễn Thái V đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh cờ D với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 561.000đồng.
[4] Ngày 01/08/2023, bị cáo Nguyễn Văn N bị Công an phường N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà bị cáo N còn thực hiện hành vi đánh bạc. Do đó, Cáo trạng số 35/CT-VKSAN ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Xét, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức được đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Xét, bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, số tiền đánh bạc không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho gia đình và Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.
[8] Về khấu trừ thu nhập: Theo khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự thì trong thời gian chấp hành án, người bị phạt cải tạo không giam giữ bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước vào hằng tháng. Xét, bị cáo Nguyễn Văn N làm Thợ đá, thu nhập theo ngày và không ổn định, nên Hội đồng xét xử cho miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo N.
[9] Về xử lý vật chứng:
- + 01 (một) bộ cờ Domino là công cụ bị cáo N và các đối tượng Hà Văn M, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn A1, Nguyễn Thái V sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- + Đối với số tiền 561.000đồng, đây là tiền bị cáo N và các đối tượng Hà Văn M, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn A1, Nguyễn Thái V dùng để đánh bạc, nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình và khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[10] Đối với Hà Văn M, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn A1, Nguyễn Thái V đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức cờ D cùng bị cáo Nguyễn Văn N. Tuy nhiên, những người này có nhân thân tốt, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi quy định tại Điều 321 hoặc 322 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã A không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Đánh bạc” đối với họ là có căn cứ.
[11] Đối với bà Nguyễn Thị B, không biết sự việc bị cáo N và các đối tượng Hà Văn M, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn A1, Nguyễn Thái V sử dụng quán cà phê của mình để đánh bạc và không thu lợi bất chính từ việc đánh bạc này. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã A không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Nguyễn Thị B về hành vi “Đánh bạc” hoặc “Gá bạc” là có căn cứ.
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 09(chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã A nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn N vì bị cáo không có thu nhập ổn định.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ cờ Domino đã qua sử dụng, bằng nhựa gồm 28 quân cờ, hình chữ nhật màu đen, trên mặt chính có các chấm trắng, đỏ, vàng, xanh lá cây;
- Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 561.000(năm trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng.
(Các vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2024 và Giấy nộp tiền mặt ngày 13/6/2024)
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000(hai trăm nghìn) đồng.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ái Phượng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hồ Xuân Dũng |
Trương Thị Hiệp | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ái Phượng |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về đánh bạc
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N phạm tội "Đánh bạc"
