Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-PT

Ngày: 12/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình

Ông Trương Hoài Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 65/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng X và các bị cáo khác do có kháng cáo của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo bị kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị Hồng X; giới tính: nữ; sinh ngày 19/4/1994; ĐKTT: SỐ D Bà T, khu phố A, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở hiện tại: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 5/12; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Ngô Thị T (chết); chồng Nguyễn Văn D, có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  2. Huỳnh Nhựt; giới tính: nam; sinh ngày 19/5/1997; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; con ông Huỳnh Hiền L và bà Lê Thanh T1; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
  3. Nguyễn Thanh T2; giới tính: nam; sinh ngày 26/11/2003; nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị Lưu L1; vợ Nguyễn Thị Thanh T3, có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023; tiền án: 01. Ngày 16/6/2021, Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 25/2021/HSST ngày 19/7/2021. Chấp hành xong ngày 06/5/2022; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023 đến ngày 22/11/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú (có mặt);
  4. Nguyễn Hoàng D1; giới tính: nam; sinh ngày 08/10/2004; nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; con ông Nguyễn Hoàng V và bà Nguyễn Thị D2; tiền án: không; tiền sự: Ngày 17/4/2023, sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ phạt 750.000 đồng (đóng phạt ngày 12/7/2023); Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt);

Người bị hại: ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1982.

Địa chỉ: 4 Bà T, khu phố A, phường A, TP ., tỉnh Bà Rịa .

Chỗ ở hiện nay: 225/1/18 đường L, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Các bị cáo đều tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án, còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị Hồng X và bị hại Nguyễn Văn D (P) là vợ chồng nhưng đang sống ly thân, D sống tại Bà Rịa - Vũng Tàu, bị cáo X về quê thuê nhà trọ tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. X biết D sẽ đưa cháu Q là con chung của D và X về T cho X nuôi nên sáng ngày 24/8/2023 X nhắn tin Zalo cho Huỳnh N nhờ N khi nào D về đến T thì đánh D dằn mặt giúp X và N đồng ý. Đến khoảng hơn 10 giờ, ngày 24/8/2024 thì D chở bé Q về đến nhà mẹ ruột của X tại ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ. Tại đây giữa X và D có nói chuyện qua lại với nhau, một lát sau thì X chở bé Q đến nhà người quen ở xã Đ chơi. Sau khi đi khỏi nhà thì X gọi điện cho N nói D đang ở trong nhà vô đánh dằn mặt dùm chị thì N đồng ý. Khoảng 11 giờ ngày 24/8/2023 N gọi điện cho Nguyễn Thanh T2 là em bà con của N nói “anh ba đụng chuyện ở T, chạy ra giúp anh một chén”, T2 đồng ý. Lúc này Nguyễn Hoàng D1 là bạn của T2 đang ở nhà của T2, T2 kêu D1 lấy xe mô tô của D1 nhãn hiệu Sirius, biển số 65H1 - 193.45 chở T2 đi ra T. Trước khi đi, T2 ra phía sau nhà lấy một cây dao tự chế để trong giỏ sách đệm mang theo. D1 chở T2 đến ngã tư bệnh viện T5 thì thấy N ngồi trên xe Wave Trung Quốc màu xanh, biển số 68F2 - 1139 đợi sẵn. Cả 03 người đi đến nhà mẹ ruột X ở ấp T, xã X, huyện T nhưng không thấy D nên N kêu T2 và D1 đi về, trên đường về thì T2 hỏi có hình D hay không, N nói lên Facebook tìm tên “Phi Đạo”. N gọi điện báo cho X biết D ở trong nhà không có ra ngoài nên đi về. Trên đường về, N rủ D1 và T2 uống cà phê, nhưng D1 không đồng ý nên T2 và D1 đi về nhà T2 ở xã Đ, huyện T. Còn N ở lại quán C1, gần thị trấn T uống nước. Đến khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 24/8/2023, X gọi điện cho N nói D ra ngoài rồi, kêu N chạy vô đánh dằn mặt D. N gọi điện cho T2 nói là nó đi ra rồi, N điều khiển xe đến chân cầu K để chờ T2. Lúc này T2 ở nhà T2 thuộc xã Đ, huyện T lấy theo 01 cây dao tự chế, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, tổng chiều dài khoảng 50cm rồi kẹp vào nách và nói với D1 đi giải quyết mâu thuẫn. D1 biết T2 mang theo dao để giải quyết mâu thuẫn nhưng không ngăn cản và tiếp tục chở T2. Khoảng 20 phút sau, D1 và T2 đến chân cầu K gặp N. Lúc này, N chạy trước dẫn đường còn D1 chở T2 chạy theo sau, khi đến nhà mẹ ruột của X ở ấp T, xã X thì thấy D đang ngồi cạnh bờ sông thì N dừng xe và nói với D “Mày mới chửi chị tao xong phải không”. Ngay lúc này T2 từ phía sau lưng N chạy tới cầm dao trên tay phải chém một cái vào người D, D đưa tay trái lên đỡ và trúng vào lưỡi dao gây chảy máu. D bỏ chạy được 01 đoạn thì T2 tiếp tục cầm dao chạy rượt theo D, N chạy theo kêu T2 “Thôi bỏ đi, dằn mặt nhiêu được rồi” nên T2 không đuổi nữa rồi N lấy xe chạy về nhà. Còn T2 và D1 cũng đi về nhà của T2. T2 cất giấu cây dao ở gốc cây mai trước sân nhà. Sự việc được báo đến Công an xã X giải quyết.

Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 627/KLTTCT-TTPYCT, ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y thành phố C, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn D tại thời điểm giám định là: 06%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 12/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng X; Huỳnh N; Nguyễn Hoàng D1 và Nguyễn Thanh T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng X 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh N 09 (chín) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T2 02 (hai) năm tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án có khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023 đến ngày 22/11/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 12/3/2024 người bị hại Nguyễn Văn D kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Ngoài ra, người bị hại còn yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 70.000.000 đồng.

- Các bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà phân tích tính chất, mức độ, hậu quả từ hành vi các bị cáo đã thực hiện và nhận định: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng, đã xem xét toàn diện về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, người bị hại không cung cấp thêm chứng cứ nào mới để làm cơ sở tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại, do ở giai đoạn sơ thẩm người bị hại không yêu cầu bồi thường nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét. Vì vậy, yêu cầu bồi thường của người bị hại vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm, người bị hại có quyền khởi kiện các bị cáo về việc yêu cầu bồi thường để được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Kháng cáo của bị hại trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo của người bị hại đủ điều kiện để được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

    [2.1] Trong thời gian chung sống, bị cáo Nguyễn Thị Hồng X và người bị hại Nguyễn Văn D có phát sinh mâu thuẫn do Nguyễn Văn D thường xuyên đánh đập, hăm dọa bị cáo X, X bỏ về quê, xin ly thân với D. Ngày 24/8/2023 X biết tin D về T, lo sợ bị D quậy phá nên đã nhờ Huỳnh N đánh dằn mặt D. Bị cáo N đồng ý và rủ T2 cùng tham gia, N nói với T2 đang có mâu thuẫn nên nhờ T2 giúp sức. T2 đồng ý với N dù không biết rõ N là ai và mâu thuẫn thế nào với N. Sau khi đồng ý giúp N, T2 chuẩn bị chuẩn bị hung khí là con dao (lưỡi bằng sắt, cán gỗ, đầu bằng dài 47cm, lưỡi dài 24cm, bề lưỡi dao rộng 7,5cm) và rủ D1 cùng tham gia. D1 biết rõ T2 mang dao đi giải quyết mâu thuẫn nhưng cũng đồng ý đi cùng. Do T2 và D1 không biết mặt D nên N kêu T2 lên mạng xã hội facebook tìm tên “Phi Đạo” để biết mặt D. N, T2, D1 hẹn nơi gặp mặt sau đó N dẫn đường cho T4 và D1 đi tìm D. Khi gặp D, N hỏi “Mày mới chửi chị tao phải không” liền theo đó T2 cầm dao chém vào người D, D đưa tay lên đỡ nên bị chém trúng vào tay, D bỏ chạy, T4 tiếp tục đuổi theo nhưng N kêu lại.

    [2.2] Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 627/KLTTCT-TTPYCT, ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y thành phố C, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn D tại thời điểm giám định là: 06%.

    [2.3] Cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo Nguyễn Hồng X là người khởi xướng, N là người rủ rê, chỉ mặt và dẫn đường cho T2 và D1 đi tìm người bị hại; T2 là người trực tiếp gây thương tích cho người bị hại; D1 là người giúp sức, đồng ý đi giải quyết mâu thuẫn cùng T2 và lái xe chở T2 đi tìm bị hại để đánh là có căn cứ. Với hung khí các bị cáo sử dụng và tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định qua giám định. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

  3. Về kháng cáo của bị hại đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tăng hình phạt cho các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

    [3.1] Quá trình điều tra và tại các phiên toà các bị cáo Nguyễn Thị Hồng X, Huỳnh N, Nguyễn Hoàng D1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T2 chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

    [3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại yêu cầu giám định lại, xét thấy trong đơn kháng cáo ngày 12/3/2024 người bị hại không đặt ra yêu cầu này và quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm bị cáo cũng không có đơn yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích, cơ quan điều tra đã thu thập đầy đủ hồ sơ bệnh án của bị hại D để trưng cầu Trung tâm Pháp y thành phố C tiến hành giám định tỷ lệ thương tích theo quy định của pháp luật được thể hiện tại bản kết luận giám định số 627/KLTTCT-TTPYCT ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y thành phố C. Chưa có cơ sở để đánh giá việc giám định không đúng quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bị hại.

    [3.3] Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, mức hình phạt đã tuyên là tương xứng nên thống nhất với đề nghị của kiểm sát viên về việc không chấp nhận yêu cầu kháng cáo tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo của người bị hại.

    [3.4] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền 70.000.000 đồng của người bị hại nhưng không được các bị cáo đồng ý. Xét thấy: Bị cáo không kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự. Đồng thời, ở giai đoạn sơ thẩm người bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên vấn đề này chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Do đó yêu cầu này của người bị hại không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp giữa người bị hại và các bị cáo không thỏa thuận được với nhau số tiền bồi thường và trách nhiệm bồi thường, người bị hại có quyền khởi kiện các bị cáo tại Tòa án có thẩm quyền để được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

    Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên không chấp nhận kháng cáo của người bị hại, giữ y bản án sơ thẩm.

  4. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
  5. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người bị hại phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại Nguyễn Văn D. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
  2. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Hồng X; Huỳnh N; Nguyễn Hoàng D1 và Nguyễn Thanh T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  3. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng X 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
    • - Xử phạt bị cáo Huỳnh N 09 (chín) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T2 02 (hai) năm tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án có khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023 đến ngày 22/11/2023.
  5. Về án phí: Người bị hại Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;

- VKSND TP. Cần Thơ;

- Cơ quan tố tụng H. Thới Lai;

- Bị cáo;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-PT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 43/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger