|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG ---------------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- |
|
Bản án số: 43/2023/DS-ST Ngày 11 tháng 8 năm 2023 V/v tranh chấp dân sự chia di sản thừa kế |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Bùi Thị Phương Tâm; Trần Thế Mỹ.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 và ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp dân sự chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1976, nơi cư trú: số H N, tổ A, khu phố A, Phường P, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thanh P: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1980, nơi cư trú: khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy ủy quyền ngày 29/6/2022.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1969, nơi cư trú: số I T, tổ I, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1967, nơi cư trú: số C đường C, tổ B, khóm F, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
- - Bà Nguyễn Thị Hạnh N, sinh năm 1972, nơi cư trú: tổ A, ấp T, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.
- - Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1981, nơi cư trú: số I T, tổ I, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang.
2
Người đại diện theo ủy quyền của các ông, bà Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Hạnh N, Nguyễn Thị Thùy L: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1980, nơi cư trú: khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy ủy quyền ngày 29/6/2022.
- Bà Nguyễn Thị Thùy H, sinh năm 1974, nơi cư trú: số I T, tổ I, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang.
- - Em Nguyễn Trường Vạn N1, sinh năm 2004;
- - Em Nguyễn Phúc An K, sinh năm 2009;
- - Em Phan Nguyễn Quốc K1, sinh năm 2011;
- - Em Phan Nguyễn Quốc U, sinh năm 2016.
Cùng nơi cư trú: số I T, tổ I, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Văn phòng C2; địa chỉ: số B, T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa, Văn phòng C2 có đơn xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thanh P trình bày:
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Khi còn sống, bà L1 có tạo lập, quản lý sử dụng, không ai tranh chấp đối với căn nhà gắn liền với đất, kể cả phần đất chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà L1 có quá trình quản lý, sử dụng hơn 30 năm đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy H trình bày: Bà thừa nhận năm 2011 giữa bà H với mẹ có phát sinh mâu thuẫn, do bà lấy chồng nhưng không được mẹ đồng ý, bà H sống bên chồng tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Đến năm 2018, do thấy cuộc sống khó khăn, đã ly hôn chồng nên bà L1 kêu bà H về sống chung tại số I, đường H, khóm C, phường C B, thành phố C. Bản thân bà H không biết mẹ lập di chúc và cũng không thấy tờ di chúc. Đến tháng 7/2020, ông P nói rằng nhà, đất trên ông P đã chuyển nhượng cho người khác nên yêu cầu bà dọn đi nơi khác sinh sống, bà H cùng các con thuê nhà. Do bà T nói nhà, đất trên là của mẹ để lại, các con đều có quyền vào sinh sống nên tháng 4/2021, bà H và bà T cưa ổ khóa dọn đồ vào nhà, đất của mẹ để sinh sống. Ban ngày, bà T thuê chỗ cho bà H may quần áo, ban đêm thì về nhà, đất của mẹ để ngủ, 3 mẹ con bà T ở 1 phòng, 3 mẹ con bà H ở một phòng từ tháng 4/2021 cho đến nay.
Nguyên cha mẹ ông là bà Trần Thị Kim L1 (sinh năm 1933, chết năm 2019) và ông Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1932, chết năm 2015) chung sống với nhau có tất cả 06 người con: Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Hạnh N, Nguyễn Thị Thùy H, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Thị Thùy L. Bà L1 và ông T2 đã ly hôn theo bản án số 37/DSPT ngày 30/5/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Khi còn sống, bà L1 tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất thổ cư diện tích 67,20m² theo giấy chứng nhận QSDĐ số W 313009 do UBND thị xã C cấp ngày 09/4/2003; gắn với quyền sở hữu căn nhà diện tích xây dựng 56,8m², nhà và đất toạ lạc số I, đường H, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5002020764 do UBND thị xã C cấp ngày 09/4/2003 đứng tên bà L1.
Toàn bộ khối tài sản trên do bà L1 tạo lập, quản lý, sử dụng ổn định không ai tranh chấp cho đến khi bà L1 chết. Trước khi chết, bà L1 có lập Tờ di chúc ngày 26/9/2011 tại Văn phòng C3, thị xã C với nội dung cho ông Nguyễn Thanh P ½ tổng giá trị khối tài sản trên; cho ½ tổng giá trị khối tài sản trên cho 04 người con là Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Hạnh N, Nguyễn Thị Thùy L. Sau khi bà L1 mất, năm 2021 bà T ly hôn chồng, bán nhà về quản lý khối tài sản trên, đồng thời bà T có hành vi khoá cửa, không cho ông P và các anh chị em vào thắp hương, thờ cúng ông bà, cha mẹ.
3
Nay ông P khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo di chúc đối với di sản của bà L1 chết để lại là quyền sử dụng đất có diện tích 67, 20m² và căn nhà gắn liền trên đất có diện tích xây dựng là 56,8m²; nhà, đất tọa lạc khóm C, phường C B, thành phố C. Ông P yêu cầu được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu căn nhà và hoàn lại giá trị bằng tiền cho những người thừa kế khác.
Phần diện tích đất chưa được xét ấp giấy chứng nhận QSDĐ 28m² không nằm trong di chúc được chia, gia đình đã sử dụng từ năm 1991 đến nay, do là phần cơi nới nhưng là 01 phần chung của căn nhà nên đồng ý chia theo pháp luật, ông P nhận hiện vật, hoàn lại kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế khác. Bời vì nguyện vọng của mẹ là mong muốn cho ông P muốn gìn giữ di sản của mẹ, và cho các chị vào nhà thờ cúng ông, bà, vì hiện nay bà L, N, T1, và ông P không được vào thờ cúng.
Bà T không đồng ý đối với bản di chúc bà Trần Thị Kim L1, yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật toàn bộ diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất chưa được cấp giấy, xin nhận 02 kỷ phần và hiện vật để có chỗ ở ổn định, làm nghề may hiện vật và hoàn tiền cho các đồng thừa kế còn lại. Hiện nay, trong căn nhà số I, tổ I, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang, gồm có bà T, bà Nguyễn Thị Thùy H cùng các con của bà T và bà H đang sinh sống là Nguyễn Trường Vạn N1, Nguyễn Phúc An K, Phan Nguyễn Quốc K1, Phan Nguyễn Quốc U.
Bà H yêu cầu xem xét lại tính pháp lý đối với Tờ di chúc ngày 26/9/2011, yêu cầu chia hiện vật nhà, đất, giao hiện vật cho bà T quản lý, sở hữu, bà T hoàn tiền cho các đồng thừa kế còn lại.
4
4. Các ông, bà Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Thùy L, Nguyễn Thị Hạnh N trình bày:
Cha mẹ của các ông, bà tên Nguyễn Văn T2, sinh năm 1932, chết năm 2015 và Trần Thị Kim L1, sinh năm 1933, chết năm 2019 chung sống với nhau có tất cả 06 người con, ngoài những người con trên, cha mẹ không nhận ai khác làm con nuôi; ông, bà nội, ngoại đều đã qua đời. Khi còn chung sống cùng nhau, cha mẹ không tạo lập được tài sản gì. Đến năm 2000, cha mẹ ly hôn theo Bản án số 37/DSPT ngày 30/5/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, sau đó thì bà L1 có tạo lập được căn nhà gắn liền với đất và đã được cấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở.
Ngày 26/9/2011, bà L1 có lập Tờ di chúc tại Văn phòng C3, thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc để định đoạt đối với nhà, đất nêu trên. Di chúc này sau khi được lập và công chứng bà L1 có công khai với các con và giao cho mỗi người con giữ 1 bản, hiện nay các ông bà đều có Tờ di chúc này. Nội dung Tờ di chúc ngày 26/9/2011 bà L1 không để lại tài sản cho bà H, lý do khi mẹ còn sống, giữa mẹ với bà H có xảy ra mâu thuẫn, mẹ giận và không xem chị H là con nữa, nên cũng trong năm này mẹ lập tờ di chúc để lại tài sản cho các con nhưng không để lại tài sản cho chị H.
Trước đây, mẹ và bà L quản lý, sinh sống cùng nhau, sử dụng nhà đất trên. Sau khi mẹ mất năm 2019, bà L vẫn là người quản lý, sử dụng nhà đất và ở cùng bà H tại nhà, đất này. Cùng trong năm 2019, bà T cũng có nhu cầu dọn về nhà, đất của mẹ để sinh sống nhưng giữa các anh chị em không thỏa thuận được với nhau nên có phát sinh tranh chấp tại trình báo Công an phường giải quyết, sau đó các anh chị em không thống nhất khóa cửa nhà, đất trên, không ai sinh sống. Tháng 4/2021, bà H và bà T cưa ổ khóa dọn đồ vào nhà ở những sau đó bà H dọn đi nơi khác sinh sống, chỉ còn bà T ở trong nhà, đất này từ năm 2021 cho đến nay. Hiện nay, nhà đất số I, đường H, khóm C, phường C B, thành phố C do bà Nguyễn Thị Thanh T cùng 2 con trai đang quản lý, sinh sống tại đây. Bà H thi buổi tối về ngủ lại.
Các ông bà T1, L, N đồng ý chia thừa kế theo di chúc đối với di sản của bà L1 chết để lại, yêu cầu được nhận giá trị di sản bằng tiền; đồng ý giao quyền sử dụng đất, quyền sở hữu căn nhà cho ông P, chia phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo pháp luật.
5. Văn phòng C2 gửi văn bản trình bày ý kiến:
Văn phòng C2 được chuyển đổi từ Văn phòng C3. Theo hồ sơ lưu trữ, vào ngày 26/9/2011 tại Văn phòng C3, thị xã C với nội dung công chứng Tờ Di chúc do bà Trần Thị Kim L1 tự nguyện lập, tại thời điểm công chứng, bà L1 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật; còn đủ sáng suốt căn cứ theo giấy chứng nhận sức khỏe ngày 26/9/2011 của Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh. Tờ di chúc số 46, quyển số 01/CC-DC ngày 26/9/2011 có giá trị chứng cứ, giá trị thi hành để Tòa án xem xét giải quyết vụ án, xin vắng mặt trong suốt quá trình tố
5
tụng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 BLTTDS năm 2015; Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án; đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án, nhận thấy:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, thấy rằng: Đối với bản di chúc lập ngày 26/9/2011, được công chứng tại văn phòng C3 với nội dung bà L1 lập di chúc để lại tài sản là quyền sử dụng đất và căn nhà gắn liền với đất bà đã được cấp quyền sử dụng hợp pháp cho 05 người con gồm: Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Hạnh N, Nguyễn Thị Thùy L, Nguyễn Thị Thanh T. Tại thời điểm lập di chúc bà L1 còn minh mẫn, sáng suốt, nội dung di chúc không vi phạm điều cấm, hình thức đúng quy định, nên được xem là hợp pháp, hiện bà L1 đã chết nên làm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc. Việc nguyên đơn ông P yêu cầu được chia thừa kế theo di chúc, thống nhất chia theo diện tích đo đạc thực tế về nhà và đất, là có căn cứ chấp nhận.
Đối với việc bị đơn bà T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan bà H có yêu cầu độc lập cho rằng di chúc không hợp pháp và yêu cầu tuyên di chúc vô hiệu, yêu cầu chia theo pháp luật. Xét, di chúc đã được lập đúng trình tự thủ tục, hiện bà L1 đã chết nên phát sinh hiệu lực, ngoài lời khai không còn chứng cứ nào khác chứng minh nên việc bà T, bà H yêu cầu tuyên di chúc vô hiệu là không có căn cứ.
Ngoài tài sản được bà L1 định đoạt theo di chúc, còn phần diện tích đất 28m² trong đó có phần đất diện tích 8,6m² gắn liền với căn nhà chưa được giấy chứng nhận quyền sử dụng, được các đương sự thừa nhận bà L1 quản lý sử dụng ổn định từ trước năm 1975 đến nay. Năm 2019, bà L1 chết không để lại di chúc đối với tài sản này. Xét thấy, tuy hiện nay phần diện tích này chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng căn cứ văn bản số 2426 ngày 09/602023 của UBND thành phố C thể hiện phần diện tích đất 8,6m² loại đất ODT, đủ điều kiện cấp giấy. Đồng thời phần diện tích còn lại được gia đình bà L1 sử dụng ổn định không ai tranh chấp, bên cạnh đó theo bản trích đo do Công ty TNHH Đ, lập ngày 17/11/2022 và công văn 45 ngày 31/10/2022, thể hiện phần diện tích trên được điều chỉnh biến động thuộc tờ bản đồ số 8, thửa 329, diện tích 95,7m² loại đất ODT (đất ở đô thị) nên việc các ông, bà Nguyễn
6
Thanh P, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Hạnh N, Nguyễn Thị Thùy H, Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu chia thừa kế phần diện tích đất 28m² nêu trên theo pháp luật là có cở sở xem xét.
Đối với yêu cầu xin được nhận hiện vật của các đương sự thấy rằng ông P là người được nhận phần lớn khối di sản thừa kế so với các đồng thừa kế khác hơn nữa, nguyện vọng của ông cũng như các đồng thừa kế T1, N, L đồng ý để ông nhận hiện vật căn nhà làm nơi thời cúng. Ngoài giá trị về vật chất còn về giá trị tinh thần nên việc giao căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh P là phù hợp, ông P nghĩa vụ hoàn giá trị cho các đồng thừa kế khác tương đương với phần di sản được nhận.
Đối với các vật dụng sinh hoạt trong gia đình, nguyên đơn không tranh chấp và bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết mà tự thỏa thuận nên đề nghị không xem xét.
Đối với khoản chi phí sửa chữa nhỏ như lợp mái tool, trét bê, sửa hàng rào mà bà Nguyễn Thị Thanh T đã tu bổ, cải tạo phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, xét bà T không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.
Căn cứ theo các Điều 624, 626, 627, 630, 643, 649, 650, 651, 659, 660 Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P về việc yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc, yêu cầu nhận hiên vật;
- - Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy H về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản chưa được định đoạt trong di chúc; không chấp nhận yêu cầu phần tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về yêu cầu tuyên di chúc không có hiệu lực, chia di sản bà L1 được cấp giấy theo pháp luật và xin công nhận, giao phần diện tích đất 28m² cho bà T quản lý sử dụng.
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thời hiệu khởi kiện:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết, đây là vụ án “Tranh chấp dân sự chia di sản thừa kế”, bị đơn đang cư trú thành phố C, tỉnh An Giang nên yêu cầu kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
7
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia thừa kế theo di chúc:
- Xét tính hợp pháp của di chúc
- - Tại các điểm 1, 27, 26, 28 diện tích 67,2m², thuộc bản đồ số 24, thửa đất số 243 cấp cho bà Trần Thị Kim L1 theo giấy chứng nhận QSDĐ số 00989/Bb (BĐĐC thửa số 329, tờ bản đồ số 8, loại đất ODT)
- - Các điểm 1, 2, 3, 26, 16, 20, 21, 17, 4 là phần diện tích theo sự chỉ ranh của bà T diện tích 94,3m², trong đó: Các điểm 1, 2, 27 diện tích 0,2m² nằm ngoài giấy chứng nhận số 00989/Bb; các điểm 1, 27, 3, 26, 29, 4 bằng diện tích 66,1m² thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 00989/Bb; các điểm 26, 16, 20, 21, 17, 29 có diện tích 28,0m² là phần bà Nguyễn Thị Thanh T đang sử dụng nằm ngoài giấy chứng nhận QSDĐ số 00989/Bb.
Qua ý kiến của Văn phòng C2 cho biết, Văn phòng công chứng Lục Văn T3 được chuyển đổi từ Văn phòng C3. Theo hồ sơ lưu trữ, vào ngày 26/9/2011, Văn phòng C3 có công chứng Tờ Di chúc do bà Trần Thị Kim L1 tự nguyện lập, tại thời điểm công chứng, bà L1 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật; còn đủ sáng suốt căn cứ theo giấy chứng nhận sức khỏe ngày 26/9/2011 của Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh. Tờ di chúc số 46, quyển số 01/CC-DC ngày 26/9/2011 có giá trị chứng cứ, giá trị thi hành để Tòa án xem xét giải quyết vụ án.
Nhận thấy, bà L1 lập di chúc tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, bày tỏ ý chí của bà, nội dung di chúc không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm, có quyền chỉ định người thừa kế. Về hình thức, di chúc của bà L1 lập thành văn bản, được công chứng, thể hiện rõ ràng các nội dung ngày, tháng, năm; họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ tên người được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản. Do đó, căn cứ quy định của pháp luật tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp thì di chúc của bà L1 là hợp pháp.
Ý kiến của bà T, bà H cho rằng di chúc không hợp pháp, nhưng không cung cấp được chứng cứ cho rằng không hợp pháp nên không có cơ sở xem xét.
Như vậy, theo Di chúc, di sản của bà L1 để lại là quyền sử dụng đất thổ cư diện tích 67,20m² gắn liền căn nhà có diện tích xây dựng là 56,8m² và gác gỗ có diện tích gác 17m² sẽ chia theo sự định đoạt của bà L1. Qua đo đạc thực tế, diện tích nhà 55,6m², các đương sự thống nhất bản trích đo hiện trạng, nên Hội đồng xét xử công nhận diện tích thực tế này.
Căn cứ bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH Đ lập ngày 17/11/2022, thể hiện:
8
- - Các vật kiến trúc trên đất tại các điểm 4, 3, 26, 16, 27 là căn nhà diện tích 64,2m², trong đó: Các điểm 26, 16, 17, 29 có diện tích 8,6 m² nằm ngoài giấy chứng nhận QSDĐ số 00989/Bb; các điểm 4, 3, 26, 29 có diện tích 55,6m² thuộc giấy chứng nhận QSDĐ số 00989/Bb; các điểm 16, 20, 21, 17 là tường xây nằm ngoài giấy chứng nhận QSDĐ số 00989/Bb; các điểm 4, 1, 2, 3 là hàng rào.
Căn cứ biên bản định giá ngày 17/8/2022 thể hiện giá đất theo giá thị trước có giá 8.000.000 đồng/m²; giá nhà loại 3.2, tỷ lệ sử dụng còn lại 55%; giá 3.097.000 đồng/m2.
- Xác định di sản của bà L1 theo di chúc
- Xác định người thừa kế theo di chúc, đó là ông Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Hạnh N, Nguyễn Thị Thùy L.
- Quyền sử dụng đất thổ cư diện tích 67,20m² gắn liền căn nhà có diện tích xây dựng là 56,8m² và gác gỗ có diện tích gác 17m². Qua đo đạc hiện trạng thực tế, diện tích nhà 55,6 m², tổng diện tích trệt và gác gỗ 72,6m².
Loại đất bà L1 đang quản lý sử dụng là đất thổ cư, không phải đất nông nghiệp. Căn cứ vào hồ sơ kê khai cấp giấy CNQSDĐ và QSHNO thì do cá nhân bà L1 tự kê khai đăng ký và được cấp giấy tờ đất và nhà ở, nên thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà L1, bà L1 có quyền định đoạt tài sản là cá nhân của bà chứ không phải hộ gia đình.
Di chúc của bà L1 được xem là một giao dịch dân sự đơn phương, là sự thể hiện ý chí của bà L1 nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết, bà có quyền chỉ định người thừa kế theo di chúc, cho nên việc bà không chỉ định bà H có tên trong di chúc, đó là quyền định đoạt tài sản của bà L1. Bà H đã thành niên, có khả năng lao động, không phải là đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, cho nên việc bà T vịn lý do bà H không có tên trong di chúc để đánh giá di chúc không hợp pháp là không có căn cứ.
- Đối với phần diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ 28m²
Phần diện tích đất 28m² chưa được xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ nhưng là liền một khối của căn nhà. Các đương sự cùng thống nhất khai phần chưa được cấp giấy này, trước đây nghe bà L1 nói là đất quân sự không cấp, nhưng gia đình đã quản lý sử dụng ổn định hơn 30 năm, không ai tranh chấp hoặc đòi lại, mặt khác phần đất này nằm chung trong căn nhà của bà L1, đã được ngăn cách với đất quân sự một bức tường xây.
Ngày 09/6/2023 UBND thành phố C có công văn số 2426 thể hiện, theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của thành phố C được phê duyệt thì phần diện tích 8,6m² là một phần căn nhà nằm ngoài diện tích được cấp giấy cho bà Trần Thị Kim L1 được quy hoạch là đất ở đô thị, việc cấp giấy chứng nhận lần đầu được thực hiện theo quy định tại các Điều 100, 101 của Luật đất đai.
9
Xét phần đất này không có trong di chúc, bị đơn, người có quyền lợi, nghiã vụ liên quan có ý kiến chia theo pháp luật, căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 sẽ chia thừa kế theo pháp luật.
- Xác định hàng thừa kế theo pháp luật
- Nguyên tắc chia di sản theo pháp luật
- Xác định giá trị di sản là nhà, đất của bà Lang
- Giá trị di sản theo di chúc được phân chia
- Giá trị di sản theo pháp luật được phân chia là quyền sử dụng đất 28m² là 224.000.000 đồng, chia đều kỷ phần cho 06 người con, mỗi người T1, L, T, N, P, H được phân chia 37.340.000 đồng.
- Xác định người quản lý hiện vật là căn nhà, đất
Tại phiên tòa, các đương sự thống nhất cha, mẹ, chồng bà L1 đã qua đời, hàng thừa kế thứ nhất chỉ có Nguyễn Thanh P, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Thị Hạnh N, Nguyễn Thị Thùy L, Nguyễn Thị Thùy H.
Theo thứ tự hàng thừa kế phân chia kỷ phần thừa kế bằng nhau.
Các đương sự cùng thống nhất giá nhà, đất ngày 17/8/2022 thể hiện giá đất theo giá trị trưởng là 8.000.000 đồng/m²; giá nhà nhà loại 3.2, tỷ lệ sử dụng còn lại 55%; giá 3.097.000 đồng/m²
Căn nhà, gác gỗ 72,6m² và quyền sử dụng đất 67,2m² có giá trị 766.158.000 đồng.
Ông P nhận ½ giá trị là 381.221.000 đồng, còn lại ½ chia cho 04 người con T1, L, T, N bằng nhau, mỗi người là 95.305.000 đồng.
Do bà L1 định đoạt di chúc nhưng không chỉ định người quản lý di sản, hàng thừa kế thứ nhất của bà L1 tranh chấp quản lý di sản nên Hội đồng xét xử sẽ xét đến nhu cầu, công sức dóng góp, gìn giữ để giao cho một trong các hàng thừa kế nhận hiện vật. Người nhận hiện vật có nghĩa vụ hoàn lại kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế khác.
Bà L1 mất năm 2019, khi còn sống, bà L là người sống cùng bà L1, còn các anh chị em đều có gia đình ở riêng, bà H mới về sống cùng bà L1 2018, bà T về sống năm 2021 và quản lý căn nhà. Về công sức đóng góp cải tạo, tu bổ căn nhà, kết cấu xây dựng đều là của bà L1. Khi bà T về sống chung có sửa chữa giá trị nhỏ như lợp mái tol phía sau, tô, trét tường chống thấm nước, làm lại hàng rào, mục đích để thuận lợi khi sử dụng. Tại phiên tòa, bà T cũng không yêu cầu, tranh chấp các khoản đầu tư, sửa chữa này. Việc chăm sóc, phụng dưỡng bà L1 do ông P, bà T, bà L, bà H chăm sóc khi tuổi già. Ý kiến của các đồng nguyên đơn, yêu cầu chia thừa kế nhận kỷ phần bằng nhau. Cho nên, Hội đồng xét xử không xem xét kỷ phần công gìn giữ, tu bổ di sản của bà L1 cho nguòi nào trong hàng thừa kế, mà quyết định chia kỷ phần bằng nhau.
10
Xét qúa trình chung sống, điều kiện kinh tế và nhu cầu chỗ ở của hàng thừa kế, thấy rằng, các ông T1, P, L, N cho rằng do bà T gây khó khăn nên không được vào nhà thờ cúng cha mẹ, đồng thời theo ý chí định đoạt của bà L1 theo di chúc, ông P được nhận ½ giá trị căn nhà, đất. Ông P cũng có mục đích giữ gìn, thờ cúng ông, bà, cha mẹ, cũng đồng ý cho bà T, H cùng cháu tiếp tục lưu cư thêm 6 tháng khi chưa tìm chỗ ở mới, nguyện vọng này cũng là nguyện vọng của các ông, bà T1, L, N. Do đó, nghĩ nên xét giao hiện vật cho ông P là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
- Như vậy, tổng giá trị nhà, đất là di sản của bà L1 có giá trị 986.481.000 đồng, ông P nhận giá trị 418.561.000 đồng và nhận hiện vật nhà, đất, ông P có trách nhiệm hoàn trả lại các thừa kế số tiền 567.920.000 đồng, cụ thể trả cho các kỷ phần bao gồm: Trả cho bà Nguyễn Thanh T giá trị kỷ phần thừa kế 132.645.000 đồng; ông T1 giá trị kỷ phần thừa kế 132.645.000 đồng; bà L giá trị kỷ phần thừa kế 132 .645.000đồng; bà N giá trị kỷ phần thừa kế 132.645.000 đồng; bà H giá trị kỷ phần thừa kế 37.340.000 đồng.
- Qúa trình quản lý, sử dụng, bà T có sửa chữa nhỏ lợp mái tol, hàng rào, tô trét thấm dột mục đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, bà không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Các tài sản vật dụng sinh hoạt của bà T gồm tivi, tủ lạnh, tủ quần áo, máy may, các vật dụng sinh hoạt nấu ăn, sinh hoạt hàng ngày trong căn nhà bà L1, ông P, bà T và các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên không giải quyết.
- Chi phí tố tụng 4.900.000 đồng do ông P đã nộp trước, do ông P nhận ½ giá trị nhà, đất theo di chúc và chia 1/6 kỷ phần theo pháp luật, nên chi phí tố tụng ông P phải chịu ½ là 2.450.000 đồng, còn lại ½ chi phí chia 05 kỷ phẩn, mỗi đồng thừa kế T1, T, N, H, L phải hoàn trả lại 490.000 đồng cho ông P.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông P nhận hiện vật căn nhà, đất và có nghĩa vụ hoàn trả đủ số tiền cho hàng thừa kế; đồng thời có quyền liên hệ cơ quan chức năng để đăng ký xét cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích nhà, đất chưa được cấp giấy.
Đối với phần yêu cầu chia căn nhà, đất được chấp nhận, nên các đương sự chịu án phí tương ứng với giá trị phần tài sản được chia trong khối di sản thừa kế.
Vì các lẽ trên;
11
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 624, 630, 643, 650, 651, 659, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P về việc yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc, yêu cầu nhận hiên vật;
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy H về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản chưa được định đoạt trong di chúc;
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy H về yêu cầu tuyên di chúc không có hiệu lực, chia di sản bà L1 được cấp giấy theo pháp luật và xin công nhận, giao phần diện tích đất 28m² cho bà T quản lý sử dụng.
- Xác định căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất là di sản của bà L1 có giá trị 986.481.000 đồng.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông P có nghĩa vụ hoàn trả đủ số tiền cho hàng thừa kế và có quyền liên hệ cơ quan chức năng để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
- Thời hạn lưu cư tại căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất số I, đường T, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang của bà Nguyễn Thị Thanh T, bà Nguyễn Thị Thùy H, Nguyễn Trường Vạn N1, Nguyễn Phúc An K, Phan Nguyễn Quốc K1, Phan Nguyễn Quốc U là 6 tháng, kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.
Ông P được nhận di sản hiện vật căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất, có giá trị 418.561.000 đồng theo bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH Đ lập ngày 17/11/2022.
Ông P có trách nhiệm hoàn trả lại các thừa kế số tiền là 567.920.000 đồng, cụ thể:
Trả giá trị cho các kỷ phần thừa kế theo di chúc và theo pháp luật gồm bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền 132.645.000 đồng; ông Nguyễn Thanh T1 số tiền 132.645.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thùy L số tiền 132.645.000 đồng; bà Nguyễn Thị Hạnh N số tiền 132.645.000 đồng;
Trả giá trị kỷ phần thừa kế theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị Thùy H 37.340.000 đồng.
12
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về chi phí tố tụng
- Về án phí dân sự sơ thẩm
- Quyền kháng cáo
Các đồng thừa kế T1, T, N, H, L mỗi người phải hoàn trả lại 490.000 đồng cho ông P.
Ông P chịu án phí 20.742.000 đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.000.000 đồng theo biên lai nộp tạm ứng án phí số 0001987 ngày 23/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Châu Đốc, ông P còn phải nộp thêm 9.023.000 đồng.
Bà T chịu án phí 6.632.000 đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai nộp tạm ứng án phí số 0003316 ngày 06/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Châu Đốc, bà T phải nộp thêm 6.332.000 đồng.
Bà H chịu án phí 1.867.000 đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai nộp tạm ứng án phí số 0003300 ngày 01/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Châu Đốc, bà H phải nộp thêm 1.567.000 đồng.
Ông T1, bà L, bà N mỗi người phải chịu án phí là 6.632.000 đồng.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Ngọc Hà |
13
Bản án số 43/2023/DS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự chia di sản thừa kế
- Số bản án: 43/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
