Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN K

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 43/2023/HS-ST

Ngày 11-8-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Đôi

Bà Phan Thị Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 08/4/1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn V1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1962 và bà Mai Thị H1, sinh năm 1969; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/6/2023; có mặt.

- Bị hại: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn V1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Quang N, chị Hoàng Thị P; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/5/2023, Nguyễn Ngọc T đi bộ một mình trên đường thôn V1, xã Đ. Khi đi qua nhà ông Hoàng Văn T1 ở cùng thôn, T mở cổng đi vào sân; do cửa nhà mở nên T quan sát thấy có một chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A14 ở vị trí mặt ghế ngồi tại gian giữa phòng khách; còn vợ chồng ông T1 đang ngủ trên giường ở gian bên cạnh. T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên nên đã lén lút đi vào nhà, lấy chiếc điện thoại đút vào túi quần bên phải đang mặc rồi nhanh chóng đi ra khỏi nhà. T đi bộ đến cửa hàng điện thoại di động của anh Nguyễn Quang N ở thôn Đại Lộc 2, xã Đ, huyện K bán được 1.900.000 đồng; sử dụng tiền để chi tiêu cá nhân hết.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày 18/5/2023, chị Hoàng Thị P (là con gái của ông T1) đến cửa hàng của anh N để chuộc lại chiếc điện thoại trên với giá 1.900.000 đồng. Ngày 22/5/2023 chị P có đơn trình báo Công an xã Đ về việc ông T1 mất trộm điện thoại di động và giao nộp: 01 bản phô tô hóa đơn bán hàng; 01 bản phô tô bảng giá bán hàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu bạc và 01 thẻ nhớ nhãn hiệu SANDICK màu xám trắng loại 32GB bên trong lưu trữ 03 file video thể hiện hình ảnh T đi bộ vào nhà ông T1, và hình ảnh T bán điện thoại cho anh N.

Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 06/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện K kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu bạc, số IMEI 357368581402856, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị là 2.500.000 đồng.

Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho ông T1 số tiền 1.900.000 đồng. Ông T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu bạc, Cơ quan điều tra đã trả lại ông T1 là chủ sở hữu hợp pháp. 01 thẻ nhớ nhãn hiệu SANDICK màu xám trắng, loại 32GB, đã được đánh số bút lục để lưu trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSKT ngày 10/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Nguyễn Ngọc T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Không có.
  • - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Nay bị hại không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo, nên không xem xét giải quyết.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận bị cáo đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 18/5/2023, tại nhà của ông Hoàng Văn T1 ở thôn V1, xã Đ, huyện K, Nguyễn Ngọc T đã có hành vi lén lút lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 trị giá 2.500.000 đồng của ông Hoàng Văn T1. Như vậy, hành vi của Nguyễn Ngọc T đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo, là đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định, không có tài sản riêng, tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo có cơ sở được chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Không có.

[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu đề nghị gì thêm. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Trong vụ án này, anh Nguyễn Quang N mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 của Nguyễn Ngọc T, nhưng không biết tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là đúng pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của UBND cấp xã, trường hợp không đồng ý thì UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, UBND cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.

  • - Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án.
  • - Về xử lý vật chứng: Không có.
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện K;
  • - Công an huyện K;
  • - Phòng PV06 + PC10 Công an Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Sở tư pháp;
  • - Ủy ban nhân dân xã Đ;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 43/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger