Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số:43/2024/HS-ST

Ngày 11 tháng 7 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền;

Thẩm phán: Ông Nguyễn Khắc Chiên;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Thọ;

Bà Nguyễn Thị Phẩm;

Bà Bùi Thị Hảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quý Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử công khai, trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TL-HSST ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 136/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí D, sinh ngày 05/6/1979; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; nơi sinh: Huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Khu I xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do; Bố, Mẹ đẻ: Không xác định; Mẹ nuôi: Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; Nghề nghiệp: Nghỉ hưu, hiện ở khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: Không xác định; Vợ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1979; Nghề nghiệp: Công nhân, hiện ở huyện P, tỉnh Phú Thọ; Con: có 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2009, hiện ở huyện P, tỉnh Phú Thọ;

- Tiền án:

  • + Bản án số 25/HSST ngày 14/6/2007, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh xử phạt Nguyễn Chí D 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ra trại ngày 31/12/2007, Nguyễn Chí D đã chấp hành xong án phí. Đối với khoản tiền phải bồi thường cho ông Nguyễn Quốc K là 3.080.000 đồng, ngày 19/01/2009, D đã nộp 200.000 đồng. Đối với khoản tiền còn lại 2.880.000 đồng, ngày 18/02/2009, Thi hành án dân sự huyện P đã ra Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án cho ông Nguyễn Quốc K.
  • + Bản án số 42/HSST ngày 30/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh xử phạt Nguyễn Chí D 8 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ra trại ngày 09/12/2022. D đã chấp hành xong án phí và các quyết định khác của bản án.

- Tiền sự:

  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ – XPVPHC ngày 21/3/2023 của Công an xã P, xử phạt Nguyễn Chí D 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ – XPVPHC ngày 04/4/2023 của Công an xã P, xử phạt Nguyễn Chí D 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • + Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường số 04/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã P. Ngày 14/9/2023, Nguyễn Chí D đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã.

- Nhân thân:

  • + Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã số 31/QĐ-UBND ngày 17/7/2009 của Ủy ban nhân dân xã P. Ngày 17/01/2010, Nguyễn Chí D đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã.
  • + Quyết định về việc đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của tỉnh số 906/QĐ-UBND ngày 27/4/2010 của Ủy ban nhân dân huyện P. Ngày 28/01/2012 Nguyễn Chí D đã chấp hành xong Quyết định đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ – XPVPHC ngày 20/12/2013 của Công an huyện P, xử phạt Nguyễn Chí D 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 13/02/2014, D đã nộp tiền phạt.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/8/2023, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Ngọc D1 - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh P; địa chỉ: Số nhà A, ngõ A, đường M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Văn phòng đại diện của Công ty L1: Số nhà D đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Người bị hại: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2000; địa chỉ: Khu E, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; địa chỉ: Khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Buổi trưa ngày 28/8/2023, Nguyễn Chí D, sinh năm 1979, trú tại khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ đi uống rượu rồi về nhà ngủ. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, do nghi ngờ về việc anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1974, trú tại khu I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ có quan hệ bất chính với chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1980, trú tại khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ - là vợ của D nên D bực tức và nảy sinh ý định đi chém anh T. D lấy 01 con dao (loại dao mong), dài 44cm để ở sạp bán hàng phía trước cửa nhà giấu ở sau lưng, một mình điều khiển xe mô tô biển số: 88F7 – 7306 đi đến nhà anh T. Trên đường đi D lấy con dao ở sau lưng ra và cài ở phía trước xe. Khi đến nơi, D dựng xe mô tô ở ven đường phía ngoài cổng nhà anh T (dao vẫn cài ở xe) rồi đi lên sân nhà anh T. Thấy cửa nhà khép nên D đẩy cửa đi vào thì thấy anh T đang nằm trên giường trong buồng nên D đi ra sân nói to “Thằng chó ra đây tao nói chuyện với mày”, anh T nghe thấy tiếng của D. Do sợ bị đánh nên không đi ra, anh T gọi điện thoại cho anh Nguyễn Hùng P, sinh năm 1976, trú tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (là em trai anh T) đến giúp. Sau đó anh P và chị Lê Thị L, sinh năm 1979, trú tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (là vợ của anh P) đi đến nhà anh T thì gặp D ở cổng. Anh P khuyên can D đi về thì D nói “Em tôn trọng anh không em chém chết thằng này lâu rồi, hôm nay em phải chém chết nó, nếu thằng T mà không ra gặp em em chém chết nó”. Lúc này anh T từ trong nhà đi ra, ngồi ở thềm trước cửa nhà, D nhìn vào nói “Con chó kia mày làm cho gia đình tao tan cửa nát nhà, hôm nay tao chém chết mày, tao có đi tù cũng được nhưng tao phải chém chết mày, giỏi thì tao đi từ 18 đến 20 năm”. Anh P khuyên can một lúc thì D điều khiển xe mô tô đi về nhà. D dựng xe ở cửa nhà, dao vẫn cài ở xe rồi vào nhà nằm. Khoảng 10 phút sau, do vẫn bực tức nên D lại ra xe để đi tìm chém anh T. Lúc này, bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953, trú tại khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (là mẹ nuôi của D) đang đứng ở gần đấy nên D nói với bà C “Con đi chém chết thằng chó này” (ý của D là đi chém chết anh T). Bà C nói với D: “Chém người ta là đi tù đấy”. D nói “Đi tù thì đi, bây giờ vợ chả có con chả có đi tù thì đi”. Mặc dù được can ngăn nhưng D không nghe mà vẫn điều khiển xe mô tô biển số 88F7 – 7306, dao vẫn cài ở xe đi đến nhà anh T. Khi đến nhà anh T thì D để xe ở ven đường ngoài cổng nhà anh T, dao vẫn cài ở xe rồi D đi lên nhà anh T. Anh T đang cầm chổi cọ quét ở khu vực góc sân. D đi lên nói với anh T “Bây giờ mày thế nào”. Anh T nói “Chẳng thế nào cả”. D đi ra vị trí xe mô tô, cầm con dao, giấu ở phía sau người rồi đi lên sân hướng về phía anh T. Thấy D quay lại, anh T cầm chổi cọ, đi lùi vào trong phòng khách còn D cầm dao tiến về phía anh T. Khi anh T đi lùi vào trong phòng khách, gần khu vực cửa phòng ngủ thì D cũng tiến đến phía trong phòng khách, qua cửa chính. Lúc này, D đứng đối diện với anh T, cách anh T khoảng 01m, D vung dao lên chém 01 nhát vào vùng trán của anh T. Sau đó, D tiếp tục tiến thì anh T dùng chân đạp 01 cái vào bụng của D làm D ngã xuống nền nhà làm con dao bị văng ra. Anh T lao đến, ngồi lên đùi D đè đầu gối lên bụng D, dùng tay trái tì cổ, ghì D xuống còn tay phải đấm 02 cái vào mặt D. Lúc này, do bị thương ở vùng trán nên anh T bị choáng, không ghì giữ được D nữa, đồng thời lúc này thấy D nhặt được con dao bị rơi trước đó nên anh T đứng dậy, bỏ chạy về phía cầu thang. Khi anh T chạy lên đến bậc thang thứ ba thì quay người lại để xem D có đuổi theo mình không. Lúc này, D đuổi theo anh T đến chân cầu thang, D cầm dao tay phải chém ngang một cái từ trái sang phải trúng vào cẳng chân trái của anh T. Sau khi chém trúng chân anh T, D cầm dao ra cổng, lên xe bỏ về. Sau đó, Anh T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P.

Khi về đến nhà, D nói với bà C: “Con vừa chém thằng T không biết nó chết hay sống”. Thấy áo dính máu nên D thay áo ra để ở nhà và nói với bà C “Con để cái áo ở đây nếu Công an đến thì nói là con chém thằng T rồi và bà đưa cái áo cho Công an, con phải đi”. Sau đó, D điều khiển xe mô tô đến nhà anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 2007, ở khu G, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để rửa máu dính ở trên mặt. D nói với anh V cho D gửi chiếc xe máy. Ngay sau đó, anh Nguyễn Trung H1 (sinh năm 2004, con trai của D) đi đến nhà anh V, D nói với anh H1 việc D chém anh T, rồi D bảo anh H1 chở D đi xuống V để bắt xe đi Hà Nội. Sau đó anh H1 và anh V điều khiển xe mô tô biển số 88F7-7306 chở D đi đến thành phố V, tỉnh Phú Thọ, rồi quay về. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, D đến Công an xã P để đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Chí D khai nhận nội dung: Sau khi quay lại nhà T, D đi lên sân thì thấy anh T đang cầm chổi cọ quét sân. D đi ra vị trí xe mô tô lấy con dao đã cài trước đó, tay trái cầm dao giấu ở phía sau người đi lên sân hướng về phía anh T. Anh T cầm chổi lùi vào giữa nhà. D đi đến đứng đối diện cách anh T khoảng 01 mét, tay trái cầm dao vung lên định chém anh T thì anh T cầm chổi cọ vụt trúng con dao làm con dao văng ra phía sau D. D nắm vào chiếc chổi cọ giằng co với anh T. Anh T dùng tay đấm trúng vùng mặt và vùng cổ D rồi dùng chân đạp trúng bụng D làm D ngã ngửa ra phía sau. Anh T ngồi lên đùi D đè đầu gối lên bụng D, hai tay dí vào cổ D. Lúc này, D ngoái đầu nhìn về phía sau thì thấy con dao ở phía sau người, cách đầu D khoảng 60 đến 70 cm, nên D vươn tay phải ra cầm dao vung lên chém một nhát trúng vào vùng trán anh T làm chảy nhiều máu. Anh T bỏ chạy hướng ra cầu thang. D vùng dậy, dồn đuổi theo anh T mục đích để chém tiếp. Khi chạy lên đến bậc thứ ba cầu thang, anh T quay người lại về phía D. D chạy đến chân cầu thang chém một nhát trúng vào chân trái anh T. Sau đó D cầm dao đi ra xe mô tô, cài dao ở xe rồi điều khiển xe đi về nhà. Nguyên nhân dẫn đến việc D mang dao đến và chém anh T là do anh T có quan hệ tình cảm bất chính với vợ của D, dẫn đến việc D và vợ ly thân, không sống cùng nhau.

Cơ quan điều tra Công an tỉnh P tiến hành thực nghiệm điều tra, xác định: Cho bị cáo D tiến hành thực hiện hành vi dùng dao chém ở các tư thế khác nhau. Kết quả xác định:

  • - Với tư thế bị cáo D nằm ngửa dưới đất, anh T ngồi đè lên bụng D, tay bóp cổ, đầu cúi, mặt không nghiêng: D cầm dao tay phải chém từ dưới lên trên về phía đầu, vị trí lưỡi dao tiếp xúc theo đường thằng dọc thái dương bên trái.
  • - Với tư thế bị cáo D nằm ngửa dưới đất, anh T ngồi đè lên bụng D, tay bóp cổ, đầu cúi, mặt nghiêng sang trái: D cầm dao tay phải chém từ dưới lên trên về phía đầu, vị trí lưỡi dao tiếp xúc theo đường thẳng dọc từ đuôi lông mày trái xuống má bên trái.
  • - Với tư thế bị cáo D và anh T đứng đối diện, cách nhau 01 tầm cánh tay: D cầm dao tay phải chém từ trên xuống dưới, từ phải qua trái về phía đầu anh T, vị trí lưỡi dao tiếp xúc theo đường chéo từ trán trái xuống cánh mũi.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định thương tích đối với anh Nguyễn Xuân T, giám định ADN.

Tại Bản kết luận giám tổn thương cơ thể trên người sống số: 168/KLTTCT/TTPY ngày 29/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:

  • “- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của từng thương tích:
    • + Vết thương vùng mặt (Vùng trán mũi): 06%.
    • + Vỡ thành trong và thành ngoài xoang trán trái: 13%
    • + Vết thương số một lòng bàn tay trái: 01%.
    • + Vết thương số hai lòng bàn tay trái: 01%
    • + Vết thương cẳng chân trái: 01%.
    • + Mẻ xương chày cẳng chân trái: 02%.
    • + Tại thời điểm giám định bệnh nhân đang điều trị vết thương hở nên Trung tâm pháp y chưa đáng giá được hết các tổn thương.
  • - Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư: 22,23%. Làm tròn: 22%
  • - Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Xuân T tại thời điểm giám định là 22% (Hai mươi hai phần trăm).
  • Cơ chế hình thành vết thương vùng mặt, vỡ thành trong và thành ngoài xoang trán trái; hai vết thương lòng bàn tay trái; vết thương cẳng chân trái, mẻ xương chày cẳng chân trái: Do tác động của vật sắc gây nên”.

Tại kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 205/KLTTCT/TTPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn tương cơ thể của anh Nguyễn Xuân T tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 168/KLTTCT/TTPY ngày 29/8/2023 là 22% (Hai mươi hai phần trăm). Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Xuân T giám định bổ sung là 05% (Năm phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư: 25,9%. Làm tròn: 26%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Xuân T sau hai lần giám định là: 26% (Hai mươi sáu phần trăm). Cơ chế hình thành tụ máu ngoài màng cứng vùng trán: Do tác động của vật sắc gây nên.”

Tại Kết luận giám định số 7155/KL-KTHS ngày 03/11/2023 và Kết luận giám định số 9010/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của V1 Bộ C2 kết luận: “Trên con dao có bám dính máu người và là máu của Nguyễn Xuân T”, “Các dấu vết màu nâu bám dính trên chiếc áo gửi giám định là máu người và là máu của Nguyễn Xuân T.”

Ngày 05/3/2024, Cơ quan điều tra có Công văn gửi Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh P phối hợp cung cấp thông tin “Đối với thương tích của bị hại Nguyễn Xuân T bị dao chém vào vùng đầu gây nên thương tích đứt gân G, vỡ nền sọ, tụ ít máu ngoài màng cứng vùng trán trái. Vỡ thành trong và thành ngoài xoang trán trái, vỡ xương trán trái thì thương tích này nếu không được cấp cứu kịp thời thì có dẫn đến tử vong hay không”?

Ngày 19/4/2024, Trung tâm P có Công văn trả lời Cơ quan điều tra “Đây là một vết thương sọ não hở nếu không được cấp cứu, điều trị thì có thể dẫn đến tử vong, ví dụ: Sốc mất máu, nhiễm khuẩn...”

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra dấu vết trên thân thể của Nguyễn Chí D, phát hiện: 01 vết xây sát da phía trước dái tai bên phải có kích thước dài 01cm; 02 vết xây sát da vùng cổ bên phải có kích thước dài 05 cm và 0,5cm; 01 vết thương xây sát da vùng ngực bên trái có kích thước dài 06cm; 02 vết thương xây sát da vùng mu bàn tay trái kích thước dài 01cm và dài 1,5cm. D xác định các thương tích do trong quá trình xô sát, đánh nhau với anh T, D từ chối giám định thương tích và không đề nghị gì đối với các thương tích trên.

Căn cứ vào lời khai của D, lời khai của bị hại, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, kết quả thực nghiệm điều tra...D khai nhận chém anh T với tư thế nằm ngửa, anh T ngồi lên đùi D, đè đầu gối lên bụng D, hai tay dí vào cổ D là không có căn cứ, không phù hợp với dấu vết thương tích trên cơ thể anh Nguyễn Xuân T.

- Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an xã H, thành phố V; Công an thị trấn P, Công an xã P, huyện P và lấy lời khai những người có liên quan: Không có căn cứ xác định giữa anh Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thị C1 có quan hệ tình cảm với nhau.

* Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 con dao dạng dao mong có chiều dài 44cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13,5cm, chỗ rộng nhất 04cm, lưỡi dao bằng kim loại màu xám đen dài 30,5cm, có một lưỡi sắc, đầu dao bằng, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 7,3cm, chỗ hẹp nhất là 03cm, trên bề mặt lưỡi dao có bám dính chất dịch mầu nâu đã khô; 01 chiếc chổi cọ có cán dài 0,77m, chỗ rộng nhất 3,2cm ; chỗ nhỏ nhất 2,8cm, lá cọ có diện 0,6m x 0,5m, trên chổi cọ có bám rải rác chất dịch mầu nâu đỏ đã khô ; 01 chiếc mũ cối mầu xanh, vành mũ có kích thước 26,5cm x 30,5cm, đã cũ qua sử dụng ; 01 chiếc đồng hồ đeo tay có quai đeo bằng kim loại và một đầu bị tuột khỏi chốt kết nối với mặt đồng hồ, đồng hồ có chữ LONGINES; 01 chiếc áo vải dài tay (dạng áo cánh), trên áo có các kẻ sọc màu xanh, trắng, vàng. Trên áo có bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ. Áo bị thiếu cúc số 3, 4 từ dưới lên của hàng cúc áo, các cúc áo còn lại đều có đặc điểm có màu đen, trên cúc có chữ H&N, cúc hình tròn có đường kính 1,1cm ; 01 chiếc xe mô tô kiểu xe Dream, nhãn hiệu Havico, biển số 88F7-7306, xe đã cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, có vỏ màu xanh, số IMEI 1: 352377069219554, số IMEI 2: 352377069219562, bên trong có gắn thẻ sim số 0392977169, điện thoại đã cũ đã qua sử dụng ; 01 chiếc quần bò màu xanh, trắng, trên quần có bám dính chất dịch mầu nâu đỏ.

* Xác minh tài sản: Nguyễn Chí D đang sinh sống tại thửa đất số 170, tờ bản đồ số 21, diện tích 86,8m², thửa đất đứng tên bà Nguyễn Thị C – là mẹ nuôi của D. D không đứng tên trên tài sản gì là đất tại xã P.

Tại Bản cáo trạng số: 41/CT-VKSPT-P2 ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí D về tội “Giết người” theo điểm n, p khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố: D đứng đối diện với anh T, cách anh T khoảng 01m, D vung dao lên chém 01 nhát vào vùng trán của anh T. Sau đó, D tiếp tục tiến thì anh T dùng chân đạp 01 cái vào bụng của D làm D ngã xuống nền nhà làm con dao bị văng ra. Anh T lao đến, ngồi lên đùi D đè đầu gối lên bụng D, dùng tay trái tì cổ, ghì D xuống còn tay phải đấm 02 cái vào mặt D. Lúc này, do bị thương ở vùng trán nên anh T bị choáng, không ghì giữ được D nữa, đồng thời lúc này thấy D nhặt được con dao bị rơi trước đó nên anh T đứng dậy, bỏ chạy về phía cầu thang. Khi anh T chạy lên đến bậc thang thứ ba thì quay người lại để xem D có đuổi theo mình không. Lúc này, D đuổi theo anh T đến chân cầu thang, D cầm dao tay phải chém ngang một cái từ trái sang phải trúng vào cẳng chân trái của anh T. Sau khi chém trúng chân anh T, D cầm dao ra cổng, lên xe bỏ về.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày đối với đồ dùng cá nhân của D gồm: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, có vỏ màu xanh, số IMEI 1: 352377069219554, số IMEI 2: 352377069219562, bên trong có gắn thẻ sim số 0392977169, điện thoại đã cũ đã qua sử dụng ; 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay có quai đeo bằng kim loại và một đầu bị tuột khỏi chốt kết nối với mặt đồng hồ, đồng hồ có chữ LONGINES đã cũ và bị hỏng không còn giá trị sử dụng, do vậy D không nhận lại, do bị hỏng không còn giá trị sử dụng đề nghị tiêu hủy.

Tại phiên tòa người bị hại là anh Nguyễn Xuân T không yêu cầu D phải bồi thường khoản tiền anh đã chi phí điều trị. Đồng thời anh Nguyễn Xuân T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D. Tuy nhiên, bị cáo D đã tác động đến gia đình để bồi thường cho anh T. Chị Nguyễn Thị Thu H là con gái của bị cáo D đã tự nguyện nộp 3.000.000đ tại Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Tại phiên tòa anh Nguyễn Xuân T đồng ý nhận 3.000.000đ (ba triệu đồng) mà gia đình bị cáo D đã bồi thường cho anh.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị C đề nghị Hội đồng xét xem giảm nhẹ hình phạt cho D sớm trở về địa phương để chăm sóc bà lúc tuổi già. Đối với chiếc xe mô tô D đi là kiểu xe Dream, nhãn hiệu Havico, biển số 88F7-7306, xe đã cũ đã qua sử dụng là tài sản của bà mua cho D để lấy phương tiện đi lại. Đây là tài sản của bà nên bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thu H (là con gái của bị cáo D) đã tự nguyện nộp số tiền này thay cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí D phạm tội “Giết người”.

* Về điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

* Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí D từ 12 đến 13 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/8/2023.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Chí D.

* Về trách nhiệm dân sự:

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Xuân T không đề nghị Nguyễn Chí D phải bồi thường. Quá trình điều tra, D đã tác động đến gia đình bồi thường cho anh T. Chị Nguyễn Thị Thu H (là con gái D) đã tự nguyện nộp số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ cho anh Nguyễn Xuân T1.

* Về Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 con dao dạng dao mong có chiều dài 44cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13,5cm, chỗ rộng nhất 04cm, lưỡi dao bằng kim loại màu xám đen dài 30,5cm, có một lưỡi sắc, đầu dao bằng, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 7,3cm, chỗ hẹp nhất là 03cm, trên bề mặt lưỡi dao có bám dính chất dịch mầu nâu đã khô; 01 chiếc chổi cọ có cán dài 0,77m, chỗ rộng nhất 3,2cm ; chỗ nhỏ nhất 2,8cm, lá cọ có diện 0,6m x 0,5m, trên chổi cọ có bám rải rác chất dịch mầu nâu đỏ đã khô ; 01 chiếc mũ cối mầu xanh, vành mũ có kích thước 26,5cm x 30,5cm, đã cũ qua sử dụng ; 01 chiếc đồng hồ đeo tay có quai đeo bằng kim loại và một đầu bị tuột khỏi chốt kết nối với mặt đồng hồ, đồng hồ có chữ LONGINES ; 01 chiếc áo vải dài tay (dạng áo cánh), trên áo có các kẻ sọc màu xanh, trắng, vàng. Trên áo có bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ. Áo bị thiếu cúc số 3, 4 từ dưới lên của hàng cúc áo, các cúc áo còn lại đều có đặc điểm có màu đen, trên cúc có chữ H&N, cúc hình tròn có đường kính 1,1cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, có vỏ màu xanh, số IMEI 1: 352377069219554, số IMEI 2: 352377069219562, bên trong có gắn thẻ sim số 0392977169, điện thoại đã cũ đã qua sử dụng ; 01 chiếc quần bò màu xanh, trắng, trên quần có bám dính chất dịch mầu nâu đỏ. Là công cụ phương tiện phạm tội và vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Trả cho bà Nguyễn Thị C 01 chiếc xe mô tô kiểu xe Dream, nhãn hiệu Havico, biển số 88F7-7306, xe đã cũ đã qua sử dụng

* Về án phí: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Chí D phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm bào chữa:

Về tội danh nhất trí với đề nghị của kiểm sát viên, tuy nhiên luật sư không đồng ý quan điểm với kiểm sát viên về việc áp dụng đối với bị cáo “Có tính chất côn đồ”. Xong xét về nguyên nhân, điều kiện dẫn đến bị cáo phạm tội là do mâu thuẫn giữa bị cáo và anh T, do nghi ngờ anh T có quan hệ bất chính với vợ của bị cáo, tại biên bản đối chất ngày 19/10/2023 anh T có thừa nhận gặp chị C1 tại nhà nghỉ chỉ là sự tình cờ chứ không đi cùng chị C1. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tích cực tác động gia đình để bồi thường cho người bị hại, tại phiên tòa người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Xuân T không đề nghị bị cáo Nguyễn Chí D phải bồi thường. Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tác động đến gia đình (Chị Nguyễn Thị Thu H – Là con gái của bị cáo) đã bồi thường cho ngưười bị hại số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng: Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 35/QĐ ngày 29/8/2023 và Quyết định khởi tố bị can số 81 ngày 30/8/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện P đối với Nguyễn Chí D về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; và Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 191/QĐ-VPCQCSĐT ngày 24/01/2024 từ tội “ Cố ý thương tích” sang tội “Giết người” và Quyết định thay đổi khởi tố bị can số 414/ĐN- VPCQCSĐT ngày 24/01/2024 của Cơ quan điều tra – Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình tự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của người bị hại tại cơ quan điều tra, tại phiên toà và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; kết luận giám định, lời khai của những người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:

Do nghi ngờ anh Nguyễn Xuân T có quan hệ bất chính với chị Nguyễn Thị C1 (Là vợ của D), nên trưa ngày 28/8/2023 tại nhà ở của anh Nguyễn Xuân T ở khu I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Nguyễn Chí D có hành vi dùng dao, loại dao mong, dài 44cm chém vào vùng trán và cẳng chân trái anh T khiến anh T bị tổn thương cơ thể 02 giám định là 26%.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Chí D là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng của người khác. Nguyễn Chí D sử dụng con dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng trán của anh T là vùng trọng yếu của cơ thể. Hành vi của Nguyễn Chí D thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe con người, có khả năng dẫn tới chết người, nhưng hậu quả chết người không xảy ra nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự. D đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

Do đó, hành vi của Nguyễn Chí D đã phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ”, “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Điều 123 của Bộ luật Hình sự về tội “Giết người” quy định:

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) ....

n) Có tính chất côn đồ;

p) Tái phạm nguy nhiêm

Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Chí D phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là đúng quy định pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; động cơ, mục đích phạm tội là do nghi ngờ anh Nguyễn Xuân T có quan hệ bất chính với chị C1 là vợ của bị cáo. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

  • * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  • * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo đã tác động tích cực gia đình để bồi thường cho bị hại; tại phiên tòa người bị hại là Nguyễn Xuân T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Chí D có nhân thân xấu đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Do vậy, Nguyễn Chí D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi Giết người với tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ”, “Tái phạm nguy hiểm” và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Chí D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặt khác, hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây ra thiệt hại về tính mạng của anh T do đó thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên khi áp dụng mức hình phạt cần áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Xong với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo chỉ vì nghi ngờ anh T có quan hệ với vợ của bị cáo đã dùng dao chém vào vùng trán và cẳng chân của anh T và hậu quả làm anh T bị tổn thương cơ thể là: 26%.

Vì vậy lần phạm tội này cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Sau khi xem xét nhân thân, công việc của bị cáo nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa anh Nguyễn Xuân T không đề nghị bị cáo Nguyễn Chí D phải bồi thường. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra bị cáo D đã tác động đến gia đình để chị Nguyễn Thị Thu H (Là con gái của bị cáo D) đã tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ để bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T.

Xác nhận sự tự nguyện của chị H tại phiên tòa đã tự nguyện nộp số tiền này thay cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này.

[7]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

* Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) con dao dạng dao mong, dài 44cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13,5cm, chỗ rộng nhất 04cm, lưỡi dao bằng kim loại màu xám đen dài 30,5cm, có một lưỡi sắc, đầu dao bằng, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 7,3cm, chỗ hẹp nhất là 03cm, trên bề mặt lưỡi dao có bám dính chất dịch mầu nâu đã khô;
  • - 01(một) chiếc chổi cọ có cán dài 0,77m, chỗ rộng nhất 3,2cm ; chỗ nhỏ nhất 2,8cm, lá cọ có diện 0,6m x 0,5m, trên chổi cọ có bám rải rác chất dịch mầu nâu đỏ đã khô ;
  • - 01 (một) chiếc mũ cối mầu xanh, vành mũ có kích thước 26,5cm x 30,5cm, đã cũ qua sử dụng ;
  • - 01 (một) chiếc áo vải dài tay (dạng áo cánh), trên áo có các kẻ sọc màu xanh, trắng, vàng. Trên áo có bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ, áo bị thiếu cúc số 3, 4 từ dưới lên của hàng cúc áo, các cúc áo còn lại đều có đặc điểm có màu đen, trên cúc có chữ H&N, cúc hình tròn có đường kính 1,1cm.
  • - 01(một) chiếc quần bò màu xanh, trắng, trên quần có bám dính chất dịch mầu nâu đỏ.
  • - 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, có vỏ màu xanh, số IMEI 1: 352377069219554, số IMEI 2: 352377069219562, bên trong có gắn thẻ sim số 0392977169, điện thoại đã cũ đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay có quai đeo bằng kim loại và một đầu bị tuột khỏi chốt kết nối với mặt đồng hồ, đồng hồ có chữ LONGINES.

* Trả lại cho bà Nguyễn Thị C (là mẹ nuôi của D): 01 (một) chiếc xe mô tô kiểu xe Dream, nhãn hiệu Havico, biển số 88F7-7306, xe đã cũ đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ lập ngày 16/5/2024).

[8].Đối với các trường hợp khác:

Đối với bà Nguyễn Thị C: Trước khi đi và sau khi D về, D đều nói với bà C về việc D chém anh T. Bà C không phải mẹ đẻ của D nhưng bà C nuôi dưỡng D từ nhỏ. Trước khi D đi, bà C đã can ngăn D nhưng không được. Bà C không trực tiếp tham gia hay chứng kiến việc D chém anh T, không biết cụ thể anh T bị thương tích như nào nên không xác định được mức độ, tính chất của hành vi do D gây ra. Mặt khác, sau khi gây án cùng ngày 28/8/2023 bị cáo D đã đến cơ quan Công an để đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Trung H1 (con trai D): Sau khi chém anh T, D gặp anh H1 và bảo anh H1 đưa D đi thành phố V để bắt xe đi trốn. D nói với anh H1 việc D dùng dao chém vào đầu, chân của anh T. Tuy nhiên, anh H1 là con đẻ của D, H1 không trực tiếp có mặt tại nơi xảy ra sự việc, không biết cụ thể thương tích của anh T như thế nào, không xác định được hành vi của D là giết người hay gây thương tích. Sau khi làm việc với Cơ quan Công an, anh H1 không gây cản trở quá trình điều tra, không bao che người phạm tội. Mặt khác, sau khi gây án cùng ngày 28/8/2023 bị cáo D đã đến cơ quan Công an để đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Tiến V: Sau khi chém anh T, D đến nhà anh V để gửi xe máy. Tại đây, D gặp anh V, nhờ anh V cùng H1 (con trai D) đưa D đi V để bắt xe đi trốn. Anh V biết việc D vừa dùng dao chém anh T nhưng anh V không trực tiếp có mặt tại nơi xảy ra sự việc, không biết cụ thể thương tích của T như thế nào nên không xác định được hành vi của D là giết người hay gây thương tích. Sau khi làm việc với Cơ quan Công an, anh V không gây cản trở quá trình điều tra, không bao che người phạm tội. Mặt khác, sau khi gây án cùng ngày 28/8/2023 bị cáo D đã đến cơ quan Công an để đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[11]. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị không áp dụng điểm n đối với bị cáo Nguyễn Chí D có chưa phù hợp, nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[2]. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí D phạm tội “Giết người”.

[3]. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí D 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/8/2023.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Chí D.

[4]Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Xuân T không đề nghị bị cáo Nguyễn Chí D phải bồi thường. Tuy nhiên, ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Thu H (Là con gái của bị cáo D) đã nộp số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000249 ngày 10/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ để bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T, anh T đồng ý nhận khoản tiền 3.000.000đ mà chị H đã nộp thay cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này.

[5].Về xử lý vật chứng:

*Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) con dao dạng dao mong, dài 44cm, chuôi dao bằng gỗ dài 13,5cm, chỗ rộng nhất 04cm, lưỡi dao bằng kim loại màu xám đen dài 30,5cm, có một lưỡi sắc, đầu dao bằng, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 7,3cm, chỗ hẹp nhất là 03cm, trên bề mặt lưỡi dao có bám dính chất dịch mầu nâu đã khô;
  • - 01(một) chiếc chổi cọ có cán dài 0,77m, chỗ rộng nhất 3,2cm ; chỗ nhỏ nhất 2,8cm, lá cọ có diện 0,6m x 0,5m, trên chổi cọ có bám rải rác chất dịch mầu nâu đỏ đã khô ;
  • - 01 (một) chiếc mũ cối mầu xanh, vành mũ có kích thước 26,5cm x 30,5cm, đã cũ qua sử dụng ;
  • - 01 (một) chiếc áo vải dài tay (dạng áo cánh), trên áo có các kẻ sọc màu xanh, trắng, vàng. Trên áo có bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ, áo bị thiếu cúc số 3, 4 từ dưới lên của hàng cúc áo, các cúc áo còn lại đều có đặc điểm có màu đen, trên cúc có chữ H&N, cúc hình tròn có đường kính 1,1cm.
  • - 01(một) chiếc quần bò màu xanh, trắng, trên quần có bám dính chất dịch mầu nâu đỏ.
  • - 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, có vỏ màu xanh, số IMEI 1: 352377069219554, số IMEI 2: 352377069219562, bên trong có gắn thẻ sim số 0392977169, điện thoại đã cũ đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay có quai đeo bằng kim loại và một đầu bị tuột khỏi chốt kết nối với mặt đồng hồ, đồng hồ có chữ LONGINES.

* Trả lại cho bà Nguyễn Thị C (là mẹ nuôi của D): 01 (một) chiếc xe mô tô kiểu xe Dream, nhãn hiệu Havico, biển số 88F7-7306, xe đã cũ đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ lập ngày 16/5/2024).

[6]. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Chí D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm. /.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - PC 01; PC 06 - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - CQ THAHS, dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "giết người"

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án bị cáo Nguyễn Chí D phạm tội giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger