Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 11-6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Bộ và ông Phạm Văn Chỉ.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đàm Thị Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên tòa số: 25 ngày 22 tháng 4 năm 2024, số: 29 ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh năm 1990 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T1 và bà Bùi Thị L; có vợ là Trần Thị D và 2 con

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Cà Văn D1, sinh năm 1993 (đã chết)

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

  1. Bà Cà Thị H, sinh năm 1964.
  2. Anh Cà Văn T2, sinh năm 1986
  3. Anh Cà Văn T3, sinh năm 1989.
  4. Chị Cà Thị D2, sinh năm 1989

Đều cư trú: bản Nà Sáy 1, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại: Anh Cà Văn T2, sinh năm 1986. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Anh Lò Văn H1, anh Nguyễn Văn T4 (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Văn T4 mua lại của anh Nguyễn Hồng N 1 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius sơn màu xanh đen, biển số 34K1-048.42 (đăng ký xe mang tên Nguyễn Hồng N). Ngày 14/10/2023, Phạm Văn T mượn chiếc xe mô tô trên của anh T4 để làm phương tiện đi lại. Khoảng gần 21 giờ 00 phút ngày 14/10/2023, Phạm Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô, có bật đèn pha chiếu sáng, đi trên đường T hướng thôn P, xã K ra đường Q. Một lúc sau, T đi đến Km 21+400 Quốc lộ A giao với đường tỉnh lộ 390E thuộc địa phận thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Đây là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa áp phan bằng phẳng rộng 5,60m, ở giữa ngăn cách bởi vạch sơn vàng đứt đoạn rộng 0,15m chia làm 2 chiều đường P - N và ngược lại. Lúc này trời tối, không mưa, mặt đường khô ráo. T điều khiển xe mô tô đi cắt ngang qua đường Q từ bên phải sang bên trái theo chiều N - thị trấn P ra phần đường bên phải Quốc lộ A. Do không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi thẳng nên phần bên trái xe mô tô biển số 34K1-048.42 do T điều khiển đã đâm va vào phần đầu bên phải xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, sơn màu xanh xám, biển số 27Z1-361.58 do anh Cà Văn D1 điều khiển đi thẳng trên đường Quốc lộ 17B ở phần đường bên phải hành trình N - P. Sau va chạm, xe mô tô biển số 27Z1-36 1.58 đổ nghiêng phải, trượt rê trên mặt đường chếch chéo sang lề đường trái theo hướng đi của xe tạo ra vết cày xước mặt đường dài 11,16m; đầu xe hướng P, đuôi xe hướng N. Anh D1 ngã theo xe văng ra lề đường bên trái, bị thương chảy máu nằm bất tỉnh cách đuôi xe mô tô biển số 27Z1-361.58 về hướng N 4,10m. Xe mô tô biển số 34K1-048.42 đổ nghiêng phải, trượt rê trên mặt đường chếch chéo sang lề đường bên trái theo hướng N- P tạo ra 02 vết cà xước mặt đường dài 7,10m và 5,20m. Sau đó xe lật nghiêng trái văng vào thửa đất của gia đình ông Nguyễn Duy K ở bên trái đường theo hướng N - P. Đầu xe hướng P, đuôi xe hướng N. Thế ngã văng theo xe ra

thửa đất của gia đình ông Nguyễn Duy K làm dập nát đám cỏ cách tâm trục bánh trước xe mình điều khiển 2,65m hướng về P. Sau tai nạn, anh D1 và T được đưa vào cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện K. Sau đó anh D1 được chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu. Ngày 15/10/2023, anh D1 được đưa về gia đình ở xã N, huyện T và chết tại nhà lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày. Thế được chuyển Bệnh viện quân y 7 tỉnh H điều trị đến ngày 27/10/2023 ra viện. Hai xe mô tô liên quan bị hư hỏng, tổng thiệt hại tài sản là 11.087.000 đồng.

Tại Hồ sơ bệnh án của Trung tâm y tế huyện K, Biên bản khám nghiệm tử thi và Kết luận giám định tử thi số 118 ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đ kết luận: Nạn nhân Cà Văn D1 bị bầm tím, tụ máu tổ chức phần mềm dưới da đầu vùng chẩm, kích thước (13x10)cm; vỡ xương hộp sọ ở vùng chẩm, kích thước (8x0,1)cm; màng não căng tím, không rách, tụ máu dưới màng cứng bán cầu đại não trái; chảy máu lan toả màng mềm toàn bộ hai bên bán cầu đại não; tụ máu tiểu não và cầu não. Nguyên nhân chết của Cà Văn D1 là do chấn thương sọ não. Các dấu vết thương tích để lại trên tử thi Cà Văn D1 phù hợp với đặc điểm và cơ chế hình thành dấu vết thương tích do tác động ngoại lực của vật tày gây nên.

Tại Hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Trung tâm y tế huyện K, Bệnh viện Q và Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 396 ngày 01/12/2023 của Trung tâm P kết luận: Phạm Văn T bị gãy kín 1/3 giữa xương đòn phải, đã phẫu thuật xử lý. Hiện ổn định để lại sẹo mổ vùng ngực trước bên phải kích thước trung bình. Xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Văn T tại thời điểm giám định là 12%. Tổn thương có đặc điểm do va chạm tai nạn giao thông gây ra là phù hợp.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn và ma tuý đối với Phạm Văn T ngày 15/10/2023 thể hiện: Trong hơi thở của T không có nồng độ cồn và âm tính đối với các chất ma tuý.

Tại Kết luận định giá tài sản số 35b ngày 01/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe mô tô biển số 27Z1-361.58 thiệt hại trị giá 9.179.000 đồng, xe mô tô biển số 34K1-048.42 thiệt hại trị giá 1.908.000 đồng, tổng cộng là 11.087.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 29/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong, không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 1 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Văn T.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Phạm Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện giao thông, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 14/10/2023 tại Km 21 + 400m đường Quốc lộ 17B (đoạn giao với đường thôn P, xã K, huyện K), thuộc địa phận xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 34K1-048.42 hướng đường T đi thôn P, xã K. Khi đi đến phần đường bên phải theo hướng thôn N đi thị trấn P, T điều khiển xe mô tô đi cắt ngang qua đường Q từ bên phải sang bên trái theo chiều thôn N - thị trấn P ra phần đường bên phải Quốc lộ A. Do không chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện đi thẳng trên đường ưu tiên nên phần bên trái xe mô tô biển số 34K1-048.42 do T điều khiển đã đâm va vào phần đầu bên phải xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, sơn màu xanh xám, biển số 27Z1-361.58 do anh Cà Văn D1 điều khiển đi thẳng trên đường Quốc lộ 17B ở phần đường bên phải hành trình thôn N đi thị trấn P. Hậu quả anh D1 bị chết, bản thân Thế bị thương tổn hại 12% sức khỏe, 02 xe mô tô bị hư hỏng trị giá thiệt hại là 11.087.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ đã không chú ý quan sát, không nhường đường cho phương tiện đi thẳng trên đường ưu tiên, vi phạm vào khoản 23 Điều 8, khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Hành vi của bị cáo đã gây hậu quả làm 1 người chết nên đã đủ yếu tố cầu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Để có căn cứ áp dụng hình phạt, HĐXX cần đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho gia đình bị hại. Bị hại cũng có một phần lỗi khi thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ tới mức an toàn khi qua khu vực giao nhau với đường không ưu tiên, vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8, Điều 12 của Luật giao thông đường bộ; đại diện của bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Thế là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương, ấn định thời gian thử thách cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Cà Văn D1 số tiền là 113.500.000 đồng. Anh Cà Văn T2 là đại diện theo ủy quyền của những người thừa kế theo pháp luật của anh D1 đã nhận số tiền bồi thường và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, HĐXX không xem xét về trách nhiệm dân sự.

[5] Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/6/2024.

Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 1 giấy phép lái xe hạng A1 đang lưu trong hồ sơ vụ án (đã trả tại phiên tòa)

4. Về án phí: bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Thành;
  • - Bộ phận HSNV- Công an huyện Kim Thành;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger