Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 6 - 2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Tấn Nghị;

Ông Lê Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/01/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2024, giữa:

-Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm 2000;

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1957;

Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

(Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Lê Thị Hồng N trình bày:

- Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng N và anh Huỳnh Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Chị Lê Thị Hồng N khai trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài, chị N nhận thấy không thể chung sống cùng anh T nên từ tháng 8/2023, chị N bỏ về phía chị (Thôn T, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên) sinh sống, từ đó đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Nay, chị N nhận thấy tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên xin được ly hôn anh T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Lê Tấn Đ, sinh ngày 09/02/2023, lâu nay do chị N nuôi dưỡng. Chị N xin tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị N không yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Huỳnh Thanh T

đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có bản trình bày ý kiến, không đến Tòa nên không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.

- Việc giải quyết vụ án:

Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung cho nguyên đơn nuôi, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Đương sự không yêu cầu gì về tài sản nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Hồng N, anh Huỳnh Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên vào ngày 23/8/2022 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Chị N khai trong quá trình chung sống, hai bên có mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Hai bên đã tự xa nhau từ tháng 8/2023 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Người làm chứng Nguyễn Thị Q và Ban N1, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên xác nhận anh T, chị N đã tự sống riêng là sự thật.

Mặt khác, anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa, không có ý kiến gì phản bác lại yêu cầu xin ly hôn của chị N.

Như vậy, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị N, anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.

[3] Về con chung:

Có 01 con chung tên là Huỳnh Lê Tấn Đ, sinh ngày 09/02/2023. Xét thấy cháu Đ còn rất nhỏ (dưới 3 tuổi), rất cần sự chăm sóc của người mẹ và từ khi sinh ra do chị N nuôi dưỡng, đã quen sống cùng chị N nên để cháu Đ phát triển về thể chất lẫn tinh thần, cần chấp nhận yêu cầu của chị N: Giao cháu Đ cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy chị N là công nhân, có thu nhập, đủ khả năng nuôi con và chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị Hồng N phải chịu án phí về yêu cầu xin ly hôn: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng N được ly hôn anh Huỳnh Thanh T.

2. Về con chung: Giao con chung tên là Huỳnh Lê Tấn Đ, sinh ngày 09/02/2023 cho chị Lê Thị Hồng N tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh Huỳnh Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Chị Lê Thị Hồng N phải chịu: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0012186 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, chị Lê Thị Hồng N đã nộp xong án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND H. Tây Hòa;
  • - Cục THADS H. Tây Hòa;
  • - UBND xã H
  • (GĐKKH số 66, ngày 23/8/2022);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị N xin ly hôn anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger