TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10 tháng 6 năm 2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Dềnh Bá Lồng.
2, Ông Trần Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Mẹ Y, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: bản Buộc, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lữ Đình P, sinh năm 1976;
Nơi cư trú: bản Buộc, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: Đội 25 – K2- Trại giam Đ (đại chỉ: Phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình). Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 01 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Vi Mẹ Y trình bày: Chị Vi Mẹ Y và anh Lữ Đình P tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An vào ngày 25/9/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách vợ chồng không hòa hợp luôn bất đồng quan điểm, anh Lữ Đình P sa đà vào tệ nạn ma túy, bị bắt và bị kết án tù về tội ma túy, hiện đang thi hành án tại Trại giam Đ, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2017 đến nay. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên chị Vi Mẹ Y đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lữ Đình P.
Về con chung: Chị Vi Mẹ Y và anh Lữ Đình P có 02 con chung là Lữ Thị T, sinh ngày 03/01/2001 và Lữ Quốc T1, sinh ngày 01/12/2003. Nay các con đều đã trưởng thành và có cuộc sống tự lập riêng, cháu Lữ Thị T đã lập gia đình, nên chị Vi Mẹ Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Lữ Đình P hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại giam Đ không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ việc được nên đã có đơn xin xét xử vắng mặt về việc yêu cầu ly hôn của chị Vi Mẹ Y, các lời khai của anh Lữ Đình P như sau: Anh Lữ Đình P và chị Vi Mẹ Y kết hôn vào ngày 25/9/2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do chị Y ngoại tình, cuộc sống không hạnh phúc nên bản thân cảm thấy buồn, cho nên dẫn đến phạt tội. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất về việc ly hôn của chị Vi Mẹ Y.
Về con chung: Anh Lữ Đình P và chị Vi Mẹ Y có 02 con chung là cháu Lữ Thị T, sinh ngày 03/01/2001 và cháu Lữ Quốc T1, sinh ngày 01/12/2003. Nay các con đã trưởng thành và có cuộc sống tự lập riêng, chị Vi Mẹ Y không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Lữ Đình P đồng ý như lời trình bày của chị Vi Mẹ Y.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, như lời trình bày của chị Vi Mẹ Y.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Vi M Y và anh Lữ Đình P được ly hôn nhau; về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Vi Mẹ Y yêu cầu ly hôn với anh Lữ Đình P có Hộ khẩu thường trú tại bản Buộc, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Nguyên đơn chị Vi Mẹ Y và bị đơn anh Lữ Đình P đều có đơn xin xét xử vắng mặt Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Vi M Y là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự
[2] Về hôn nhân: Chị Vi Mẹ Y và anh Lữ Đình P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp, hiện nay chị Vi Mẹ Y yêu cầu được ly hôn với anh Lữ Đình P; Hội đồng xét xử nhận thấy rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần quyết định cho chị Vi M Y và anh Lữ Đình P được ly hôn nhau.
[3] Về con chung: Chị Vi Mẹ Y và anh Lữ Đình P có 02 con chung là Lữ Thị T, sinh ngày 03/01/2001 và Lữ Quốc T1, sinh ngày 01/12/2003. Nay cả hai con đều đã trưởng thành và đã có cuộc sống tự lập riêng, các đương sự không yêu cầu giải quyết vấn đề về con cái nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản và các khoản nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Đây là vụ án về ly hôn, chị Vi Mẹ Y là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vi M Yến được ly hôn anh Lữ Đình P;
2. Về con chung: Các con chung (Lữ Thị T, sinh ngày 03/01/2001 và Lữ Quốc T1, sinh ngày 01/12/2003) đều đã trưởng thành và đã có cuộc sống tự lập riêng, đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Buộc chị Vi Mẹ Y phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo liên lai số 0001031 ngày 28/02/2024 tại Chị cục thi hành án huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
5. Về quyền kháng cáo: Tuyên bố nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tóa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn số 43 giữa nguyên đơn chị Vi Mẹ Y và bị đơn anh Lữ Đình P
