Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 10-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phương Trang;

2. Ông Lê Thành Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Đặng Hữu C (tên gọi khác: Đen N), sinh ngày 25/8/1988 tại Đồng Tháp;

nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đặng Văn M, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1950; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 26/11/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/02/2023; nhân thân: Ngày 06/4/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 01/02/2008 chấp hành xong hình phạt; Ngày 15/6/2008 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích; Ngày 18/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt ngày 04/02/2010; Ngày 13/4/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự), tỉnh Đồng Tháp xét xử về tội Trộm cắp tài sản, xử phạt 01 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 23/3/2018; Ngày 28/5/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự), tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời gian chấp hành là 18 tháng, chấp hành xong ngày 18/6/2020; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Dương Văn T, sinh năm 1973 (có đơn xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Văn Ú1, sinh năm 1967 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Khóm T, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

2. Nguyễn Văn S, sinh năm 1952 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

- Người làm chứng:

1. Trần Văn S1, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

2. Nguyễn Thị Bé T1, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 15/5/2024, Đặng Hữu C điều khiển xe mô tô, biển số 70L7-1093 đi đến khu vực ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nhìn thấy nhà anh Dương Văn T đang xây dựng, không có người trông coi nên C đi vào tìm kiếm tài sản lấy trộm. Nhìn thấy bên hông nhà có nhiều khoanh dây điện nên C lấy để lên xe, điều khiển xe chạy đi. Trên đường đi thì gặp lực lượng Công an phường A, thành phố H đang tuần tra kiểm soát, phát hiện Chờ có biểu hiện nghi vấn, nên kiểm tra phát hiện nhiều cuộn dây điện nên đưa về trụ sở Công an làm việc, tại Cơ quan Công an Đặng Hữu C đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã tạm giữ:

- Thu giữ của Đặng Hữu C: 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu đỏ, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 12.6 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu đỏ, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 4.0 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu đỏ, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 2.2 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu đỏ, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 3.45 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 2.2 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 5.6 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 2.4 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 2.2 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 6.9 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 3.2 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 3.0 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 1.0 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 03 (ba) sợi dây điện; Trong đó: Một sợi dây điện có vỏ màu vàng, một sợi dây điện có vỏ màu xanh, một sợi dây điện có vỏ màu đỏ, có cùng đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 3.2 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu xanh, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 5.3 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu xanh, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 2.4 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu xanh, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 2.0 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu trắng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 1.4 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu trắng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 2.4 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu trắng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 4.1 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu trắng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 3.2 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu trắng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 1.0 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu trắng, có đường kính 0.4mm, chiều dài khoảng 1.6 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng, có đường kính 0.6mm, chiều dài khoảng 5.2 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu vàng (lõi màu đen, xanh), có đường kính 0.6mm, chiều dài khoảng 7.0 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 02 (hai) sợi dây điện một sợi có vỏ màu trắng, một sợi có vỏ màu đen có cùng đường kính 0.6mm, chiều dài 12.4 mét, bên trong có lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 02 (hai) sợi dây điện một sợi có vỏ màu trắng, một sợi có vỏ màu đen có cùng đường kính 0.6mm, chiều dài 15.2 mét, bên trong có lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) sợi dây điện có vỏ màu trắng (chui điện bằng nhựa màu đỏ), có đường kính 0.6mm, chiều dài khoảng 13.2 mét bên trong lõi bằng kim loại, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) xe mô tô biển số 70L7-1093, số máy 16S2-024364; số khung RLCS16S208Y024387, chủng loại TAURUS, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động.

- Thu giữ của của anh Dương Văn T: 01 (một) hoá đơn bán hàng có in tên cơ sở Tư Nhiên 2, địa chỉ số H, đường N, có ghi tên khách hàng anh T (điện), ghi ngày 02/4/2023 nội dung ghi mua bán dây cáp đồng 0.4mm Cavani số lượng 100 mét mỗi mét 12.000 đồng (mười hai nghìn đồng) và dây Duplex 2*8 cadivi số lượng 50 mét, mỗi mét 45.000 đồng (bốn mươi lăm nghìn đồng) có chữ ký xác nhận của anh T là người mua hàng và người bán hàng; 01 (một) hoá đơn bán hàng có in tên cơ sở Tư Nhiên 2, địa chỉ số H, đường N, có ghi tên khách hàng anh T (điện), ghi ngày 05/10/2023 nội dung ghi mua bán dây cáp đồng 0.4mm Cavani số lượng 40 mét mỗi mét 12.000 đồng (mười hai nghìn đồng) và dây Duplex 2*8 cadivi số lượng 50 mét, mỗi mét 45.000 đồng (bốn mươi lăm nghìn đồng) có chữ ký xác nhận của anh T là người mua hàng và người bán hàng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 38/KL-HĐĐG ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận tổng số sợi dây điện Đặng Hữu C đã lấy trộm bị thu giữ: Tổng giá trị tài sản là 2.225.050 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi lăm ngàn không trăm năm mươi đồng).

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý, trả lại cho bị hại Dương Văn T toàn bộ các sợi dây điện Đặng Hữu C đã trộm của anh T; Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Ú1: 01 (Một) xe mô tô biển số: 70L7-1093. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động.

- Về trách nhiệm dân sự: bị hại Dương Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Ú1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đối với bị cáo về phần dân sự.

Trong quá trình điều tra, Đặng Hữu C đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKSTPHN, ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Đặng Hữu C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Đặng Hữu C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Hữu C về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hữu C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đối với xe mô tô biển số 70L7-1093 bị cáo dùng làm phương tiện để trộm cắp tài sản, qua điều tra xác định đây là tài sản của ông Nguyễn Văn Ú1, cho bị cáo mượn mục đích đi công việc riêng, bị cáo sử dụng làm phương tiện di chuyển đến nơi thực hiện hành vi phạm tội, ông Ú1 không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc thực hiện tội phạm nên không có đủ căn cứ xử lý ông Nguyễn Văn Ú1 với vai trò đồng phạm với Đặng Hữu C về tội Trộm cắp tài sản do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Dương Văn T toàn bộ các sợi dây điện Đặng Hữu C đã trộm của anh T; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Ú1 01 (Một) xe mô tô biển số: 70L7-1093. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) hoá đơn bán hàng có in tên cơ sở Tư Nhiên 2, địa chỉ số H, đường N, có ghi tên khách hàng anh T (điện), ghi ngày 02/4/2023 nội dung ghi mua bán dây cáp đồng 0.4mm Cavani số lượng 100 mét mỗi mét 12.000 đồng và dây Duplex 2*8 cadivi số lượng 50 mét, mỗi mét 45.000 đồng có chữ ký xác nhận của anh T là người mua hàng và người bán hàng; 01 (một) hoá đơn bán hàng có in tên cơ sở Tư Nhiên 2, địa chỉ số H, đường N, có ghi tên khách hàng anh T (điện), ghi ngày 05/10/2023 nội dung ghi mua bán dây cáp đồng 0.4mm Cavani số lượng 40 mét mỗi mét 12.000 đồng và dây Duplex 2*8 cadivi số lượng 50 mét, mỗi mét 45.000 đồng có chữ ký xác nhận của anh T là người mua hàng và người bán hàng.

- Về trách nhiệm dân sự: bị hại Dương Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Ú1 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu về phần dân sự đối với bị cáo nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hữu C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hữu C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do không có nghề nghiệp ổn định, nhưng lại muốn nhanh có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo đã tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Cụ thể, vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 15/5/2024, Đặng Hữu C điều khiển xe mô tô đi đến khu vực ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, nhìn thấy nhà anh Dương Văn T đang xây dựng, không có người trông coi nên C đi vào lén lút lấy trộm nhiều khoanh dây điện để lên xe chở đi nhằm mục đích đem bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trên đường đi thì gặp lực lượng Công an đang tuần tra kiểm soát, phát hiện và mời làm việc thì Đặng Hữu C đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 38/KL-HĐĐG ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận tổng số sợi dây điện Đặng Hữu C đã lấy trộm của anh Dương Văn T bị thu giữ, tổng giá trị tài sản là 2.225.050 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn không trăm năm mươi đồng)

Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Đặng Hữu C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ”.

Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đang có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từng nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, “ Cố ý gây thương tích”. Đáng ra, qua các lần bị xử phạt như trên, bị cáo phải biết suy ngẫm lại hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải, ra sức lao động để tìm cho mình một việc làm hợp pháp để có thu nhập chính đáng từ công sức lao động của mình, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà ngược lại do không chí thú làm ăn nhưng lại muốn nhanh có tiền tiêu xài, bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đang có tiền án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điếu 52 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[6] Đối với xe mô tô biển số 70L7-1093 bị cáo dùng làm phương tiện để trộm cắp tài sản, qua điều tra xác định đây là tài sản của ông Nguyễn Văn Ú1 cho bị cáo mượn mục đích đi công việc riêng, bị cáo sử dụng làm phương tiện di chuyển đến nơi thực hiện hành vi phạm tội, ông Ú1 không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc thực hiện tội phạm nên không có đủ căn cứ xử lý ông Nguyễn Văn Ú1 với vai trò đồng phạm với Đặng Hữu C về tội Trộm cắp tài sản do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Dương Văn T toàn bộ các sợi dây điện Đặng Hữu C đã trộm của anh T; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Ú1 01 (Một) xe mô tô biển số: 70L7-1093. Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với 01 (một) hoá đơn bán hàng có in tên cơ sở Tư Nhiên 2, địa chỉ số H, đường N, có ghi tên khách hàng anh T (điện), ghi ngày 02/4/2023 nội dung ghi mua bán dây cáp đồng 0.4mm Cavani số lượng 100 mét mỗi mét 12.000 đồng và dây Duplex 2*8 cadivi số lượng 50 mét, mỗi mét 45.000 đồng có chữ ký xác nhận của anh T là người mua hàng và người bán hàng; 01 (một) hoá đơn bán hàng có in tên cơ sở Tư Nhiên 2, địa chỉ số H, đường N, có ghi tên khách hàng anh T (điện), ghi ngày 05/10/2023 nội dung ghi mua bán dây cáp đồng 0.4mm Cavani số lượng 40 mét mỗi mét 12.000 đồng và dây Duplex 2*8 cadivi số lượng 50 mét, mỗi mét 45.000 đồng có chữ ký xác nhận của anh T là người mua hàng và người bán hàng. Xét thấy, đây là chứng cứ trong vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn điều tra, bị hại Dương Văn T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Ú1 đã nhận lại xe xe mô tô biển số: 70L7-1093 cho bị cáo mượn; cả anh T và ông Ú1 không có yêu cầu về phần dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đặng Hữu C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đặng Hữu C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) hoá đơn bán hàng có in tên cơ sở Tư Nhiên 2, địa chỉ số H, đường N, có ghi tên khách hàng anh T (điện), ghi ngày 02/4/2023 nội dung ghi mua bán dây cáp đồng 0.4mm Cavani số lượng 100 mét mỗi mét 12.000 đồng và dây Duplex 2*8 cadivi số lượng 50 mét, mỗi mét 45.000 đồng có chữ ký xác nhận của anh T là người mua hàng và người bán hàng; 01 (một) hoá đơn bán hàng có in tên cơ sở Tư Nhiên 2, địa chỉ số H, đường N, có ghi tên khách hàng anh T (điện), ghi ngày 05/10/2023 nội dung ghi mua bán dây cáp đồng 0.4mm Cavani số lượng 40 mét mỗi mét 12.000 đồng và dây Duplex 2*8 cadivi số lượng 50 mét, mỗi mét 45.000 đồng có chữ ký xác nhận của anh T là người mua hàng và người bán hàng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Hữu C phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/9/2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND. TX. Hồng Ngự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger