|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày: 09-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tấn Quốc và ông Trần Văn Cường.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Linh và bà Nguyễn Thị Hồng P - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, đối với:
- Bị cáo Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 09/10/1993, tại tỉnh Quảng Bình; nơi thường trú: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi ở hiện tại: Số nhà B đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1; con bà Ngô Thị B; chồng: Phan Sỹ H; con có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2016; nhỏ nhất sinh năm 2022);
Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Trần Văn T, sinh năm 2001; địa chỉ: Số H đường N, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- + Công ty Cổ phần H3. Địa chỉ trụ sở: Số B đường P, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Trần Thị Mai T1, chức danh: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Trần Lê, sinh năm 1980, địa chỉ: Số A đường T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Ngô Thị B, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ E, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- + Chị Nguyễn Đặng Bảo T2, sinh năm 1998; địa chỉ: Số nhà B đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 29/02/2024, Nguyễn Thị L bắt xe G đến khu vực chung cư A (không rõ địa chỉ cụ thể), thuộc phường X, thành phố H, gặp một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 04 (bốn) viên ma túy loại “thuốc lắc” và 01 (một) “hộp năm” ma túy loại “Khay”, thì được người này báo giá 5.600.000đ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng). L đồng ý mua và đưa tiền cho người bán ma túy, đồng thời nhận từ người này 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 03 túi ni lông. Liễu kiểm tra thấy trong các túi ni lông có chứa ma túy như đã đặt mua nên cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc trên người. Sau đó, L đi bộ ra trước đường đón xe ôtô Taxi biển kiểm soát 75E – 003.79 (S), do anh Trần Văn T, sinh năm 2001, trú tại: 8 N, phường X, thành phố H điều khiển, để đi tìm nơi sử dụng ma túy. Đến 13 giờ 50 phút cùng ngày, khi anh T điều khiển xe ô tô chở L đến đoạn đường trước khách sạn T3, thuộc tổ A, phường T, thị xã H, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, bắt quả tang.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Thị L ngày 29/02/2024, cho kết quả: dương tính với chất ma túy, loại Ketamine và M.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (Một) gói bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa 03 (Ba) túi nilông màu trắng viền xanh riêng biệt, trong túi thứ nhất có chứa 04 (Bốn) viên nén màu vàng không rõ hình dạng; 02 (Hai) túi ni lông màu trắng viền xanh khác, bên trong mỗi túi đều có chứa tinh thể rắn màu trắng;
- 01 (Một) điện thoại di động iPhone 12 Pro Max, màu trắng, có ốp điện thoại nhựa màu vàng, bên trong gắn sim số 0356.014.935;
- 01 (Một) xe ôtô biển kiểm soát: 75E – 003.79, nhãn hiệu MITSUBISHI, loại ATTRAGE GLX, màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số: 147/KL-KTHS ngày 03/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận:
- 04 (bốn) viên nén đều có màu vàng có tổng khối lượng là 1,5796g (một phẩy năm bảy chín sáu gam) là ma tuý, loại Methamphetamine;
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định, có khối lượng là 1,9666g (một phẩy chín sáu sáu sáu gam) là ma túy, loại Ketamine.
H2 lại đối tượng giám định gồm: 1,3796 g (Một phẩy ba bảy chín sáu gam) mẫu bột được nghiền từ 04 (bốn) viên nén đều có màu vàng và 1,8666g (Một phẩy tám sáu sáu sáu gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định. Cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe ô tô Biển kiểm soát 75E – 003.79 là của Công ty Cổ phần H3 (S), địa chỉ 2 P, phường P, thành phố H giao cho lái xe anh Trần Văn T sử dụng chở khách. Ngày 29/02/2024, anh T điều khiển xe ô tô trên chở L nhưng không biết L tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã xử lý vật chứng trả lại cho Công ty Cổ phần H3 theo quy định pháp luật. Các vật chứng còn lại chuyển cho Cơ quan thi hành án dân sự thị xã H để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS-HTh ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã hoàn lại đối tượng giám định;
- Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động iPhone 12 Pro Max, màu trắng, có ốp điện thoại nhựa màu vàng, bên trong gắn sim số 0356.014.935, do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 29/02/2024, tại đoạn đường trước khách sạn T3, thuộc tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nguyễn Thị L đang tàng trữ trái phép 1,5796g (một phẩy năm bảy chín sáu gam) ma túy, loại Methamphetamine và 1,9666g (một phẩy chín sáu sáu sáu gam) ma túy, loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Nguyễn Thị L tàng trữ trái phép 02 chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên việc tính tổng khối lượng để xác định tình tiết định khung hình phạt được tính như sau:
- - Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 1,5796g (Một phẩy năm bảy chín sáu gam) ma túy loại Methamphetamine so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (1,5796g: 5g) x 100% = 31,592% (Ba mốt phẩy năm chín hai phần trăm);
- - Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 1,9666g (Một phẩy chín sáu sáu sáu gam) ma túy loại Ketamine so với mức tối thiểu quy định tại điểm i khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: (1,9666g: 20g) x 100% = 9,833% (chín phẩy tám ba ba phần trăm).
Với tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: 31,592%% + 9,833% = 41,425% (dưới 100%) nên hành vi nêu trên của Nguyễn Thị L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 40/CT-VKS-HTh ngày 12/6/2024 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, làm phát sinh nhiều tệ nạn khác, việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Bị cáo Nguyễn Thị L phạm vào tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm ma tuý tại địa phương, do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- - Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là thương binh, có bố là quân nhân được hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra xác định xe ô tô Biển kiểm soát 75E – 003.79 là của Công ty Cổ phần H3 (S) giao cho lái xe anh Trần Văn T sử dụng chở khách. Ngày 29/02/2024, anh T điều khiển xe ô tô trên chở L nhưng không biết L tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã xử lý vật chứng trả lại cho Công ty Cổ phần H3 theo quy định pháp luật. Tại phiên toà không có ai yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy: 1,3796 g (Một phẩy ba bảy chín sáu gam) mẫu bột được nghiền từ 04 (bốn) viên nén đều có màu vàng và 1,8666g (Một phẩy tám sáu sáu sáu gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau khi gửi giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Nguyễn Bình D, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Chu Văn P1, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh T và dòng chữ: “Hoàn mẫu vật vụ Nguyễn Thị L: Bắt ngày 29/02/2024".
Đối với 01 (Một) điện thoại di động iPhone 12 Pro Max, màu trắng, có ốp điện thoại nhựa màu vàng, bên trong gắn sim số 0356.014.935 của bị cáo, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên được trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 29/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:
- - Tịch thu tiêu hủy: 1,3796 g (Một phẩy ba bảy chín sáu gam) mẫu bột được nghiền từ 04 (bốn) viên nén đều có màu vàng và 1,8666g (Một phẩy tám sáu sáu sáu gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng là mẫu vật hoàn lại sau khi gửi giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Nguyễn Bình D, 02 (hai) chữ ký ghi họ tên Chu Văn P1, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh T và dòng chữ: “Hoàn mẫu vật vụ Nguyễn Thị L: Bắt ngày 29/02/2024".
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị L 01 điện thoại di động 12 Pro Max, màu trắng, có ốp điện thoại nhựa màu vàng, số IMEI: 35133088594036; số IMEI 2: 351330885544367, bên trong gắn sim số 0356.014.935 được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 01 (một) chữ ký ghi họ tên Nguyễn Bình D, 01 (một) chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị L, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H và dòng chữ: “Điện thoại di động của Nguyễn Thị L”.
(Vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh Châu |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh C |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Bị cáo Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 09/10/1993, tại tỉnh Quảng Bình; nơi thường trú: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi ở hiện tại: Số nhà B đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế
