Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 – 05 – 2024

“Về việc: Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Xuân Thủy.

2. Bà Đinh Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 24/2024/TB-TA ngày 22 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1983; (Vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trương Quang Â, sinh năm 1973; (Vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: xóm C, thôn G, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Trương Quang  tự nguyên tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào ngày 07/01/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian ngắn, thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh  thường xuyên chơi cờ bạc, rượu chè say xĩn không quan tâm chăm sóc cho gia đình và vợ con, không những thế anh  còn ngoại tình với nhiều người phụ nữ khác nhiều năm nay, bị chị T phát hiện được. Chị T và gia đình hai bên đều nhiều lần khuyên ngăn, tác động anh  thay đổi tính tình nhưng anh  không thay đổi mà vẫn tiếp tục như vậy. Chị T cũng đã nhiều lần định nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với anh  nhưng suy nghĩ lúc đó con còn quá nhỏ, khó có thể chấp nhận chuyện cha mẹ ly hôn. Nay con đã trưởng thành, vì thế chị T yêu cầu ly hôn để giải thoát cho cả chị T và anh Â. Hiện nay, chị T nhận thấy cuộc sống hôn nhân của mình không còn hạnh phúc như trước, chị T xác định không còn yêu thương hay bất cứ tình cảm gì dành cho anh  nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì thế chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Â.

Về con chung: Chị T và anh  có 02 người con chung tên là Trương Minh P, sinh ngày 14/02/2002 và Trương Thị Hoài T1, sinh ngày 15/01/2005. Các con chung đều đã thành niên, có khả năng tự lao động nên chị T không có yêu cầu gì.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị T không có yêu cầu gì thêm, cũng không trình bày ý kiến gì thêm.

[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Trương Quang  không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh  và cũng không tiến hành hòa giải được.

[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 12 ngày 07/01/2002 của UBND xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 063/2006 của UBND xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 62, quyển số 01/06 ngày 09/5/2006 của UBND xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Căn cước công dân của chị Ngô Thị T; 01 bản sao căn cước công dân của anh Trương Quang Â.

Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương xã N về quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị T, anh  và lập Biên bản xác minh ngày 31/01/2024 (Bút số 23).

[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T; xử cho chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Trương Quang Â; buộc chị T phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các đương sự trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trương Quang  đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Ngô Thị T, yêu cầu giải quyết ly hôn; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn chị Ngô Thị T, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 12 ngày 07/01/2002 của UBND xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Bút lục số 02) mà nguyên đơn chị Ngô Thị T đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị T; có đủ cơ sở xác định: Chị Ngô Thị T và anh Trương Quang  tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh  là hợp pháp. Vì vậy, chị T có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian ngắn, thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh  thường xuyên chơi cờ bạc, rượu chè say xĩn không quan tâm chăm sóc cho gia đình và vợ con, không những thế anh  còn qua lại với nhiều người phụ nữ khác. Chị T và gia đình hai bên đều nhiều lần khuyên ngăn, tác động anh  thay đổi tính tình nhưng anh  không thay đổi. Hiện nay, chị T nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không còn yêu thương đối với anh  nên yêu cầu ly hôn, đồng thời có đơn đề nghị không hòa giải đoàn tụ giữa chị T và anh Â.

Tại các biên bản xác minh lập ngày 05/03/2024 (Bút số 28), địa phương xã N đã cung cấp thông tin: Khoảng 05 năm trở lại đây, mâu thuẫn của chị T và anh  ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do anh  thường xuyên ăn chơi, nhậu nhẹt say xĩn, không quan tâm chăm lo cho gia đình. Chị T nhiều lần khuyên ngăn anh  thay đổi nhưng không có kết quả, anh  vẫn tiếp tục như vậy. Anh  và chị T cũng đã ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau nữa.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị T và anh  đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho chị T được ly hôn với anh Â.

[3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Căn cứ vào 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 063/2006 của UBND xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 62, quyển số 01/06 ngày 09/5/2006 của UBND xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị Ngô Thị T đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị Ngô Thị T; có đủ cơ sở xác định được: Chị T và anh  có 02 người con chung tên là Trương Minh P, sinh ngày 14/02/2002 và Trương Thị Hoài T1, sinh ngày 15/01/2005. Các con chung đều đã thành niên, có khả năng tự lao động nên chị T không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[4] Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc chị Ngô Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T:

Về việc ly hôn: Chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Trương Quang Â.

[2]. Về án phí: Buộc chị Ngô Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005632 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Ngô Thị T đã nộp đủ tiền án phí.

[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Nghị Đức;
  • - CC THADS h. Tánh Linh;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger