|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/5/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Vũ;
- Bà Phạm Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị H, sinh năm: 1996;
Địa chỉ: B, KP B, phường Q, Tp B, tỉnh Đồng Nai. - Bị đơn: anh Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1994;
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.
(Chị H có yêu cầu giải quyết vắng mặt; anh T vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 12 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:
Chị với anh Nguyễn Hữu T tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cãi vã do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm. Anh T cờ bạc không lo làm ăn, gây ra nợ nần. Chị H nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T không sửa đổi. Vợ chồng cũng đã tìm cách tháo gỡ; gia đình chồng hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị với anh T ly thân mỗi người ở một nơi từ tháng 7/2023 đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện đến nay tình trạng của vợ chồng chị không cải thiện; nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn chưa được tháo gỡ; vợ chồng vẫn còn ly thân, không còn khả năng hàn gắn. Nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: anh chị có 02 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 07/8/2014 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 12/9/2016. Trước đây, tại thời điểm chị khởi kiện, hai con chung đang sống với chị H. Tuy nhiên, đến ngày 17/3/2024, anh T đến thăm và đưa hai con chung về chung sống với anh T. Nay, chị H đồng ý cho anh T tiếp tục nuôi cháu Đ và C. Chị H cấp dưỡng nuôi con cho anh T với mức 2.000.000 đồng/tháng/02 con. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Do chị H ở xa và bận công việc nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt và không có khiếu nại về sau.
Anh T vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa nên không có lời trình bày.
Tại bản tự khai ngày 22/3/2024, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:
Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H.
Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 07/8/2014 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 12/9/2016. Anh T được tiếp tục nuôi 02 con chung. Chị H cấp dưỡng nuôi con cho anh T với mức 2.000.000 đồng/tháng/02 con. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 28/12/2023, chị Lê Thị H khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị H có yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt chị H, anh T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị H:
Chị H, anh T tự nguyện kết hôn vào năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/11/2014. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, theo chị H, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Anh T cờ bạc không lo làm ăn, gây ra nợ nần. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình đã hòa giải khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị H, anh T ly thân sống mỗi người một nơi; mâu thuẫn của vợ chồng chị không được tháo gỡ; tình trạng vợ chồng chị không cải thiện. Chị H xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với anh T. Đối với yêu cầu của chị H, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về nuôi con chung: anh T, chị H có 02 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 07/8/2014 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 12/9/2016. Hiện nay, cháu Đ và C đang sống với anh T. Khi ly hôn, chị H đồng ý cho anh T được tiếp tục nuôi 02 con chung nên ghi nhận.
[4] Về cấp dưỡng: anh T vắng mặt không có lời trình bày nên không xem xét giải quyết. Tuy nhiên, chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng/02 con nên ghi nhận. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi. Vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung: chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H xin ly hôn đối với anh Nguyễn Hữu T;
- * Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Lê Thị H với anh Nguyễn Hữu T.
- * Về nuôi con chung: chị Lê Thị H đồng ý cho anh Nguyễn Hữu T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 07/8/2014 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 12/9/2016.
Ghi nhận chị Lê Thị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hữu T 2.000.000 đồng/tháng/02 con (Hai triệu đồng/tháng/02 con). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu tính từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Chị Lê Thị H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- * Về tài sản chung: chị Lê Thị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- * Về nợ chung: chị Lê Thị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lê Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Hữu T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
2. Về án phí: chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003066 ngày 29/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H xin ly hôn Nguyễn Hữu T
