Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhất Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chung
  2. Bà Lê Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Kim Kúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã N - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N - tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 826/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXX - HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2024/QÐST - HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1988 - có mặt

Nơi cư trú: Tổ dân phố Phú Thạnh, phường Ninh Thủy, thị xã N, Khánh Hoà

Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1989 – vắng mặt

Nơi cư trú: Tổ dân phố Bá Hà 2, phường Ninh Thủy, thị xã N, Khánh Hoà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 04/12/2023, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Th trình bày: Bà và ông Nguyễn Quốc T đăng ký kết hôn tại UBND xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long ngày 11 tháng 10 năm 2010. Quá trình chung sống chúng tôi thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, ông T có người phụ nữ khác bên ngoài nên về nhà gây sự đánh đập tôi, chúng tôi đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Do tình cảm không còn nên tôi yêu câu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu Th và ông Nguyễn Quốc T có 01 con chung Nguyễn Quốc T1 - sinh ngày 01/02/2012.

Bà Th có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quốc T1 - sinh ngày 01/02/2012 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Th xác định không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Ông Nguyễn Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các phiên họp hòa giải khác không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 35, Điều 48, Điều 175, Điều 177, Điều 179, Điều 191, Điều 195, Điều 196 và Điều 202 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tài sản chung và nợ chung nguyên đơn xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu Th yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc T. Nơi cư trú: tổ dân phố Bá Hà 2, phường Ninh Thủy, thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà. Theo khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyết của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu Th và ông Nguyễn Quốc T kết hôn từ năm 2010, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trên tinh thần tự nguyện, theo giấy chứng nhận kết hôn số 106/2010 ngày 11/10/2010, nên quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông T là hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện vì trong quá trình chung sống với ông T thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, ông T có người phụ nữ khác bên ngoài nên về nhà gây sự đánh đập bà Th. Bà Th và ông Toản đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Do tình cảm không còn nên bà Th yêu cầu được ly hôn với ông T. Tại phiên toà, ông T vắng mặt cho thấy ông T không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm.

Xét thấy, bà Th đã không còn tình cảm với ông Toản, vợ chồng đã không sống chung với nhau trong một thời gian dài, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu Th và ông Nguyễn Quốc T có 01 con chung là Nguyễn Quốc T1 - sinh ngày 01/02/2012. Bà Th có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quốc T1 - sinh ngày 01/02/2012 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy giao 01 con chung là Nguyễn Quốc T1 - sinh ngày 01/02/2012 cho bà Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu Th phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn ông Nguyễn Quốc T.
  2. Về con chung: Giao 01 con chung Nguyễn Quốc T1 - sinh ngày 01/02/2012 cho bà Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Th không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

    Ông Nguyễn Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

    Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu Th phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005306 ngày 05/12/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã N. Bà Th đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thị xã N;
  • - THADS thị xã N;
  • - UBND xã An Phước, huyện Mang Thít,
  • tỉnh Vĩnh Long (GCNKH số 106/2010);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Nhất Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Th được ly hôn ông Nguyễn Quốc T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger