TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày 08/5/2024 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Quốc Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
- Ông Lê Văn Vững
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 2 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình -Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/QĐST-DS, ngày 24/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm: 1995
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, Đồng Tháp
- Bị đơn: Anh Hà Văn L, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, Đồng Tháp
(Chị H có mặt tại phiên tòa, anh L vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Dương Thị H trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh L quen biết nhau một thời gian và sau đó cưới nhau năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/4/2021.
- Chị và anh sống với nhau thời gian đầu hạnh phúc, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn khoảng nữa năm nay, vợ chồng thường xuyên cự cải và ly thân nhau khoảng 3 tháng nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chồng tôi có người phụ nữ khác bên ngoài.
- Nay nhận thấy tình cảm không thể nào hàn gắng nên chị H yêu cầu ly hôn với anh L.
- - Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày đã cung cấp toàn bộ, tài liệu chứng cứ trong vụ án.
Bị đơn anh Hà Văn L trình bày:
- Tại biên bản hòa giải ngày 04/4/2024 anh L có mặt anh L trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất như lời trình bày của chị H về việc vợ chồng sống chung và có đăng ký kết hôn. Đối nguyên nhân mâu thuẫn do chị O trình bày là không có, do vợ anh mới sinh con và đã mất nên anh muốn vợ anh bình tĩnh suy nghĩ lại, anh không đồng ý ly hôn.
- - Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Nguyên đơn cung cấp:
- Căn cước công dân Dương Thị H (Bản photo);
- Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính).
Bị đơn cung cấp:
- Tờ tự khai (Bản chính);
Tòa án thu thập:
- Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Bên cạnh đó, bị đơn anh Hà Văn L hiện đang cư trú tại ấp C, xã Đ, huyện T, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị H và anh L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Lẽ ra, hai bên phải biết yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, giữ gìn hạnh phúc gia đình, nhưng trái lại chị H, anh L không tôn trọng tình cảm đã có, thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bời để mâu thuẫn xảy ra dẫn đến cãi vã, làm cho không khí trong gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Hơn nữa quá trình mâu thuẫn kéo dài nhưng chị H và anh L không có giải pháp tích cực để hạn chế mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm, điều đó chứng minh đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Hà Văn L vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên anh L lại không có biện pháp, cũng như động thái tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Điều này thể hiện tinh thần thiếu trách nhiệm của anh L đối với hôn nhân của mình, anh không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị O cũng trình bày vợ chồng đã ly thân nhau và xin ly hôn.
Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị H có căn cứ nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị H.
[3] Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
[4] Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị H và anh L thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị H, anh L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 57, Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Dương Thị H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị H được ly hôn với anh Hà Văn L;
- - Về quan hệ nuôi con: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về quan hệ tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai thu số 0005371 ngày 28/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị H, anh L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Anh Hà Văn L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Quốc Thái |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh L
