Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 25-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Lan.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thuý Hoa và bà Nguyễn Thị Hân.
  • Thư ký phiên toà: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 42/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Trương Vĩnh T, sinh ngày 05 tháng 4 năm 1988 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số A, hẻm P, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim N; vợ là Đặng Thị Linh V và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06 tháng 11 năm 2023 đến nay. (có mặt)

  • - Bị hại: Công ty TNHH T5.
  • Địa chỉ: Số F, tỉnh lộ 943, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh T2, chức vụ: Giám đốc.
  • Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Thanh T3, chức vụ: Nhân viên. Theo giấy uỷ quyền số 134/2023/UQ-MH ngày 27/7/2023.
  • Cư trú: Ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1990.
    • Cư trú: Tổ 28, ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
    • + Ông Trần Huy T4, sinh năm 1983.
    • Cư trú: Số G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
    • + Ông Trịnh Đăng K, sinh năm 2005.
    • Cư trú: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01 tháng 9 năm 2021, Trương Vĩnh T ký hợp đồng lao động không thời hạn số 153 với Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 (Công ty), địa chỉ số F tỉnh lộ 943, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Theo hợp đồng lao động, T được Công ty phân công là nhân viên bán hàng với nhiệm vụ đứng trụ bơm bán xăng và thu tiền khách hàng. Mỗi ngày làm việc 08 giờ, với 2 ca, ca sáng từ 05 giờ đến 12 giờ, ca chiều từ 12 giờ đến 20 giờ. Khi hết từng ca thì chốt sổ giao tiền mặt lại cho Công ty thông qua Trần Huy T4, Nguyễn Thanh T3, đối với số tiền lẻ sau khi kết ca từ 700 đồng trở xuống thì Công ty không lấy. Trong thời gian làm việc tại Công ty từ ngày 31 tháng 12 năm 2022 đến ngày 20 tháng 01 năm 2023, Thuyên nhiều lần bán hàng và thu tiền của khách hàng, nhưng không nộp hoặc nộp không đủ tiền bán hàng, để chiếm đoạt tiền của Công ty, cụ thể:

  • Lần thứ 1: Ca chiều ngày 31 tháng 12 năm 2022, T bán xăng A95 thu tiền mặt 584 lít đơn giá 20.900 đồng/lít với số tiền 12.205.000 đồng, Dầu DO thu tiền mặt 203 lít đơn giá 21.800 đồng/lít số tiền 4.425.000 đồng, tổng cộng 16.630.000 đồng, T không nộp cho Công ty mà chiếm đoạt toàn bộ.
  • Lần thứ 2: Ca chiều ngày 01 tháng 01 năm 2023, T bán xăng A95 thu tiền mặt 388 lít đơn giá 22.000 đồng/lít với số tiền 8.536.000 đồng, Dầu DO thu tiền mặt 59 lít đơn giá 22.350 đồng/lít với số tiền 1.318.000 đồng, tổng cộng 9.854.000 đồng, T chiếm đoạt 4.018.000 đồng, còn lại nộp cho Công ty.
  • Lần thứ 3: Ca chiều ngày 04 tháng 01 năm 2023, T bán xăng A95 thu tiền mặt 1501,3 lít đơn giá 22.350 đồng/lít với số tiền 33.554.000 đồng, Dầu DO thu tiền mặt 393 lít đơn giá 22.350 đồng/lít với số tiền 8.783.000 đồng, tổng cộng 42.337.000 đồng, T chiếm đoạt 6.744.000 đồng, còn lại nộp cho Công ty.
  • Lần thứ 4: Ngày 19 tháng 01 năm 2023, T bán cả 02 ca, nhưng đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì T tự chốt số nhiên liệu bán cả 02 ca là 1.814 lít xăng A95 với đơn giá 22.350 đồng/lít với số tiền 40.542.000 vào bảng kê và nộp số tiền như trên bảng kê; nhưng sau đó T tiếp tục bán và thu tiền của khách hàng đến cuối ca với số nhiên liệu bán được là 496,6 lít xăng A95 với số tiền 11.100.000 đồng để ngoài bảng kê và T chiếm đoạt. Đến sáng ngày 20 tháng 01 năm 2023, Trịnh Đăng K vào ca bán hàng khoảng 02 tiếng thì kiểm tra phát hiện số tiền bán được như trên trụ khoảng 14.000.000 đồng nhưng số tiền thực tế thu được không đủ, nên điện thoại cho T thì T cho biết đã chiếm đoạt 11.100.000 đồng.

Tổng số tiền mà T đã chiếm đoạt của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 là 38.492.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSLX- HS ngày 11 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã truy tố Trương Vĩnh T về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trương Vĩnh T khai: Trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà, bị cáo đã nộp lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 toàn bộ số tiền 38.492.000₫ mà bị cáo đã chiếm đoạt.

Ông Nguyễn Thanh T3 là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 thừa nhận việc Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 đã nhận lại toàn bộ số tiền 38.492.000đ do bị cáo Trương Vĩnh T nộp và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Trương Vĩnh T và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trương Vĩnh T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Không áp dụng do bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Đăng K vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của người này không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 31 tháng 12 năm 2022 đến ngày 19 tháng 01 năm 2023, bị cáo Trương Vĩnh T lợi dụng quyền hạn được giao là nhân viên bán xăng và thu tiền khách hàng đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 với tổng số tiền chiếm đoạt là 38.492.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trương Vĩnh T có đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (tội phạm rất nghiêm trọng). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với lời khai của ông Trần Huy T4 cho rằng ngày 19 tháng 12 năm 2023, bị cáo Trương Vĩnh T chiếm đoạt số tiền 18.000.000 đồng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5, nhưng bị cáo T không thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền này. Ngoài lời khai ra, ông T4 cũng không có chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không quy kết số tiền này là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Bị cáo Trương Vĩnh T là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của bị hại và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với mức độ phạm tội mà bị cáo T đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và hậu quả bị cáo gây ra nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Vĩnh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Vĩnh T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trương Vĩnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Vĩnh T phạm tội “Tham ô tài sản”.

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trương Vĩnh T 03 (ba) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
  2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Trương Vĩnh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
    • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQĐT Công an TP. Long Xuyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Vĩnh T phạm tội "Tham ô tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger