|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2023/HS-ST Ngày 07/11/2023 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Minh
Bà Vũ Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Dung– Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn N, sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT: Ấp H, xã V, huyện U, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo không; trình độ học vấn 4/12; nghề nghiệp: không; con ông Lê Văn T, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt từ ngày 19/6/2023 và bị tạm giam đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người chứng kiến: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 19/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B phối hợp với Công an xã T tiến hành kiểm tra phát hiện tại quán cà phê “Triệu Mẫn” thuộc tổ B, ấp T, xã T, thị xã B có Lê Văn N đang nằm trên võng trong chòi lá thứ nhất bên phải từ ngoài đường Quốc lộ 13 đi vào và trên nền bằng xi măng phía dưới võng chỗ N đang nằm có:
- - 01 gói nylon trong suốt, hàn kín, kích thước (1,5x1,8)cm chứa hạt tinh thể màu trắng;
- - 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín 02 đầu, kích thước (0,8 x 02)cm chứa các hạt tinh thể màu trắng.
Lê Văn N thừa nhận gói nylon và đoạn ống hút nhựa chứa tinh thể là ma túy đá của N cất giữ để sử dụng cho bản thân. Khi thấy Công an đến kiểm tra thì N ném xuống nền xi măng phía dưới võng tại vị trí N đang nằm nên Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Kết quả test nước tiểu của Lê Văn N ngày 20/6/2023 là dương tính với ma túy.
Tại Kết luận giám định số 688/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận: “- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon, hàn kín và 01 đoạn ống nhựa, hàn kín, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2201 gam (không phẩy hai hai không một gam)”.
Tại Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước truy tố Lê Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Lê Văn N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo còn khai là bản thân không biết việc cất giữ, sử dụng ma túy là hành vi vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước luận tội bị cáo: Giữ nguyên quan điểm truy tố của bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- - Về điều luật áp dụng: Áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn N mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, K sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập; các tài liệu, chứng cứ do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về chứng cứ. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, thể hiện: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 19/6/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B bắt quả tang Lê Văn N đang tàng trữ một gói nylong và một đọan ống hút nhựa chứa ma tuý tổng hợp dạng đá, có khối lượng là 0,2201 gam (không phẩy hai hai không một gam). Hành vi này của Lê Văn N đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma tuý của Nhà nước. Tại phiên tòa bị cáo khai là mình không biết ma túy là chất cấm tàng trữ, sử dụng là không phù hợp mà bản thân bị cáo có đủ nhận thức để biết việc tàng trữ ma túy là hành vi vi phạm pháp luật; bị cáo cũng biết sử dụng ma tuý là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, tổn hại tiền bạc và gây nhiều hệ luỵ xấu cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng cho bản thân.
[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
[4]. Về xử lý vật chứng: Mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng M là 0,1832 gam (không phẩy một tám ba hai gam) đựng trong phong bì, có niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B, là chất ma túy cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[5]. Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua ma túy ở khu vực ngã tư C của một người tên Đ không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xử lý.
[6]. Quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Về áp dụng pháp luật và hình phạt: Áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 19 tháng 6 năm 2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng M là 0,1832 gam (không phẩy một tám ba hai gam) đựng trong phong bì, có niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh B. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002794 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước).
- Về Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bình |
Bản án số 43/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 43/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Nhu phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
