|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 07/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Bảy – Chuyên viên Phòng Giáo Dục
Ông Dương Thanh Phương – Hiệu phó Trường THPT Tứ Kiệt
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: ông Đặng Duy Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
- Đinh Văn V (tên gọi khác B), sinh ngày 01 tháng 7 năm 2002 tại tỉnh An Giang. Căn cước công dân: [...]. Nơi cư trú: khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn S, sinh năm 1983 và bà Trần Thị M, sinh năm 1984; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; bị cáo sống chung như vợ chồng với Nguyễn Chúc M1, sinh năm 2003, con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 09/01/2024, chuyển tạm giam ngày 18/01/2024 (có mặt).
- Nguyễn Hữu D, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2006 tại tỉnh Tiền Giang. Căn cước công dân: [...]. Nơi cư trú: ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1981 và bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1983; bị cáo là con một trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không. Tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 16/01/2024, bắt tạm giam ngày 25/4/2024 (có mặt).
Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hữu D: ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu D: bà Trần Lan A – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).
Địa chỉ: A H, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Nguyễn Chúc M1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2003 tại tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 và bà Tôn Thị P, sinh năm 1979; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo sống chung như vợ chồng với Đinh Văn V, sinh năm 2002, con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 16/01/2024 (có mặt).
- Trần Thị Ngọc T1, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2007 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Châu P1, sinh năm 1980 và bà Trần Thị G, sinh năm 1980; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo chưa có chồng con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 16/01/2024 (có mặt).
Đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Thị Ngọc T1: bà Trần Thị G, sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Ngọc T1: bà Nguyễn Thị Thanh T2 – Trợ giáp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).
Địa chỉ: A H, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Bị hại :
Thái Lộc P2, sinh ngày 10/11/2007 (có mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện hợp pháp cho bị hại Thái Lộc P2: bà Lê Thị Thu T3, sinh năm 1988 (có mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phạm Minh Đ, sinh ngày 08/6/2006 (có mặt);
Địa chỉ : ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Trần Trọng S1, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ : số B, D, phường A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh.
Vũ Đình L, sinh năm 1988 (vắng mặt);
Địa chỉ : số D, Bùi Văn H, tổ C, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Văn V, sinh ngày 01/07/2002, đăng ký thường trú: khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang sống với nhau như vợ chồng với Nguyên Chúc M2, sinh ngày 01/01/2003, đăng ký thường trú: ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang và là bạn với Nguyễn Hữu D, sinh ngày 17/07/2006, đăng ký thường trú: ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Trần Thị Ngọc T1, sinh ngày 20/11/2007, đăng ký thường trú: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Tất cả thuê trọ sống tại khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để đi làm thuê nhưng đã nghỉ làm trước đó. Khoảng tháng 11/2023, V, M2, T1 đi về nhà D tại ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang chơi thì gặp và quen biết Thái Lộc P2, sinh ngày 10/11/2007, đăng ký thường trú: ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Khoảng 14 giờ ngày 28/12/2023, V và M2 đến phòng trọ của T1 và D chơi. Tại đây, do không có tiền tiêu xài nên D rủ T1, V và M2 về Tiền Giang lấy điện thoại của P2 để bán lấy tiền tiêu xài, nghe vậy V rủ lấy thêm xe mô tô của P2 thì tất cả đồng ý. D, V, T1 và M2 cùng bàn bạc, phân công như sau: khi về Tiền Giang sẽ tổ chức nhậu rồi rủ P2 qua uống bia, V sẽ mượn xe mô tô của P2 đi mua nước đá hoặc bia, M2 mượn điện thoại của P2 để chụp hình rồi chiếm đoạt xe mô tô và điện thoại của P2 bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, đồng thời T1 đưa điện thoại của mình cho V luôn để không bị nghi ngờ. Khi bị phát hiện thì D và T1 cùng đi báo Công an về việc mất luôn điện thoại của T1 để P2 không nghi ngờ. Sau khi bán được tài sản thì V và M2 sẽ lấy tiền bán xe mô tô, còn tiền bán điện thoại sẽ chia đều nhau. Tất cả đều đồng ý.
Đến khoảng 14 giờ ngày 01/01/2024 để thực hiện ý định trên, T1 kêu V, D và M2 đi về Tiền Giang để lấy điện thoại, xe của P2 thì tất cả đồng ý và cùng đi về nhà của D tại ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang ngủ tại đây. Khi đi có Trịnh Thị S2 (không rõ nhân thân) là em của T1 cùng đi theo, nhưng S2 hoàn toàn không biết mục đích về Tiền Giang là để chiếm đoạt tài sản của P2. Khoảng 09 giờ ngày 02/01/2024, tại nhà D, mọi người gồm V, D, T1 và M2 bàn bạc, phân công một lần nữa về việc lấy điện thoại và xe mô tô của P2 rồi cùng nhau đến nhà của Phạm Minh Đ, sinh ngày 08/6/2005, nơi cư trú ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang để tổ chức uống bia tìm cơ hội lấy tài sản của P2. Tại nhà của Phạm Minh Đ, D và V gọi điện thoại rủ P2 qua cùng uống bia thì P2 điều khiển xe Wave alpha, màu trắng, biển kiểm soát 63B2-917.85 đến nhà Đ và cùng tham gia uống bia. Trong lúc uống bia T1 đưa điện thoại Iphone 11 của T1 cho V giữ để P2 không nghi ngờ, V giả vờ mượn xe P2 đi mua bia nhưng P2 đi theo nên lần này không lấy được tài sản. Một lúc sau, D tiếp tục kêu P2 cho V mượn xe mô tô đi mua nước đá thì P2 đồng ý giao chìa khóa và xe mô tô biển kiểm soát 63B2-91785 cho V đi (lúc này trong cốp xe có giấy đăng ký xe, 01 cục sạt dự phòng, 01 ví da và giấy tờ có liên quan), V điều khiển xe chạy ra trước lộ đứng đợi, M2 giả vờ mượn điện thoại Iphone 14 Promax của P2 để chụp hình thì P2 đồng ý và đưa điện thoại cho M2 cầm đi bộ ra phía trước rồi lên xe mô tô cho V chở về thành phố Hồ Chí Minh.
Khi về đến thành phố Hồ Chí Minh, V và M2 đem xe mô tô chiếm đoạt được đến tiệm C1, địa chỉ: số B, đường D, phường A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh do anh Trần Trọng S1, sinh năm 1992 làm chủ, cầm xe được 8.000.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ ngày 03/01/2024, V cùng T1 và D đi bán điện thoại Iphone 14 Promax chiếm đoạt được của P2 cho cửa hàng điện thoại di động “Long Phat Apple” địa chỉ: số D, Bùi Văn H, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, do anh Vũ Đình L, sinh năm 1988 làm chủ, được 12.500.000 đồng, sau khi mua điện thoại Iphone 14 Promax, anh L bán lại cho người khách (không rõ họ tên, địa chị) nên không thu hồi được tài sản. Sau khi bán được tài sản chiếm đoạt, V chia cho T1 và D 7.500.000 đồng; V giữ số tiền còn lại tiêu xài cá nhân và mua một xe mô tô biển kiểm soát 60H6- 27.09 của một người thanh niên không biết họ tên, địa chỉ cụ thể với giá 4.500.000 đồng làm phương tiện đi lại.
Ngày 06/01/2024, anh Thái Lộc P2 đến Công an xã P trình báo sự việc, ngày 07/01/2024 biết sự việc bị phát hiện nên D, M2, V và T1 đến Công an xã P trình diện và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C kết luận:
- 01 (một) xe mô tô loại Wave & màu trắng, mang biển kiểm soát 63B2-917.85 trị giá: 16.200.000 đồng.
- 01 (một) pin sạc dự phòng màu đen, hiệu Xmobil, đã quan sử dụng trị giá: 500.000 đồng.
- 01 (một) Ví da màu đen, không xác định nhãn hiệu, đã qua sử dụng trị giá: 100.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 14Promax, màu đen, đã qua sử dụng trị giá: 15.000.000 đồng.
- 01 (một) sim điện thoại di động của nhà mạng viettell, đã qua sử dụng trị giá: 25.000 đồng.
- 01 (một) ốp lưng điện thoại Iphone 14Promax, màu xám đen, đã qua sử dụng trị giá: 80.000 đồng.
Tổng tài sản bị thiệt hại trị giá 31.905.000 đồng.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên của mình.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) xe mô tô loại Wave Anpha, màu trắng, mang biển kiểm soát 63B2-917.85 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe;
- 01 (một) xe mô tô loại World, màu trắng, mang biển kiểm soát 60H6-27.09 kèm theo giấy đăng ký xe;
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, kèm theo sim.
Xử lý vật chứng:
- Ngày 22/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trao trả: 01 (một) xe mô tô loại Wave Anpha, màu trắng, mang biển kiểm soát 63B2-917.85 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ sở hữu chị Lê Thị Thu T3, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại anh Thái Lộc P2 có đại diện hợp pháp là bà Lê Thị Thu T3: yêu cầu các bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 bồi thường 01 điện thoại di động Iphone 14Promax, màu đen là 25.000.000 đồng và 01 pin sạc dự phòng, 01 ví da, 01 sim điện thoại, 01 ốp lưng điện thoại Iphone với số tiền là 2.000.000 đồng. Tổng cộng là 27.000.000 đồng. Hiện bị cáo Nguyễn Hữu D đã bồi thường số tiền 8.500.000 đồng và bị cáo Trần Thị Ngọc T1 đã bồi thường số tiền 8.500.000 đồng, anh Thái Lộc P2 có đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Thu T3 đã nhận đủ số tiền. Tại phiên tòa bị hại P2 (có đại diện hợp pháp là bà Lê Thị Thu T3) yêu cầu bị cáo Đinh Văn V bồi thường số tiền còn lại là 10.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Trọng S1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSTXCL ngày 19/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại các quyết định cũng như hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thị xã C, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn V từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chúc M1 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc T1 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo Nguyễn Hữu D đã bồi thường số tiền 8.500.000 đồng và bị cáo Trần Thị Ngọc T1 đã bồi thường số tiền 8.500.000 đồng, anh Thái Lộc P2 có đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Thu T3 đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bị cáo D, T1 bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bị hại anh Thái Lộc P2 có đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Thu T3 yêu cầu bị cáo Đinh Văn V bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo V cũng đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Trọng S1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng. Bị cáo V đồng ý bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho anh S1, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trao trả cho chủ sở chị Lê Thị Thu T3: 01 (một) xe mô tô loại Wave Anpha, màu trắng, mang biển kiểm soát 63B2-917.85 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Đối với 01 (một) xe mô tô loại World, màu trắng, mang biển kiểm soát 60H6-27.09 kèm theo giấy đăng ký xe là tài sản do phạm tội mà có nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, kèm theo sim là tài sản của bị cáo T1 không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo T1.
- Về án phí: Bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu D có ý kiến cho rằng: Thống nhất về tội danh, về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, mức hình phạt cho bị cáo mà phía đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Phía người bào chữa kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Ngọc T1 có ý kiến cho rằng: Thống nhất về tội danh, về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng cho bị cáo mà phía đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Nhưng về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo T1 thì quá nghiêm khắc vì bị cáo T1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi. Người bào chữa kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T1, cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 sẽ sửa sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 02/01/2024 tại ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để anh Thái Lộc P2 tin tưởng giao tài sản là xe mô tô và điện thoại di động, rồi chiếm đoạt bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 31.905.000 đồng. Lời trình bày của bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo V, D, M1, T1 là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự địa phương, gây hoang mang trong nhân dân. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của anh P2 để chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài, hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo V, D, M1, T1 với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Bị cáo D, V, M1, T1 khi thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo Nguyễn Hữu D và Trần Thị Ngọc T1 là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo cùng bàn bạc, thống nhất ý chí với nhau để thực hiện tội phạm, không có sự xúi giục, kích động, dụ dỗ, thức đẩy người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, các bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm o khoảng 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo thực hiện tội phạm có sự phân công vai trò nên thuộc trường hợp phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Cụ thể, vai trò của từng bị cáo như sau: Đối với bị cáo Đinh Văn V là người tổ chức và là người trực tiếp thực hiện tội phạm; bị cáo Nguyễn Hữu D là người tổ chức và là người giúp sức trong việc thực hiện tội phạm; bị cáo Nguyễn Chúc M1 là người trực tiếp thực hiện tội phạm; bị cáo Trần Thị Ngọc T1 là người giúp sức. Cho nên, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V, D, M1 và T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo V, D, M1 và T1 khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo D, T1 tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo M1 hiện đang có thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Do đó, bị cáo V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo M1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và bị cáo D, T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo V, D, M1 và T1 có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
[8] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo V, D, M1 và T1 cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[8.1] Bị cáo V có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, bị cáo V là người tổ chức và trực tiếp thực hiện tội phạm. Bị cáo D có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo D là người tổ chức và là người giúp sức trong thực hiện tội phạm. Nên cần phải cách ly bị cáo V, bị cáo D ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt giúp ích cho xã hội sau này.
[8.2] Bị cáo M1 có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo hiện đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và hiện đang mang thai. Nên Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với bị cáo không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử lý bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú vẫn đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[8.3] Bị cáo T1 có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo T1 lúc phạm tội là người dưới 18 tuổi. Nên Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với bị cáo không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử lý bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú vẫn đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[9] Đối với Trần Trọng S1 là chủ tiệm C1 có hành vi cầm xe mô tô biển số 63B2-917.85; anh Vũ Đình L là chủ cửa hàng điện thoại Long Phát A có hành vi mua điện thoại Iphone 14 Promax của các bị cáo. Nhưng anh S1 và anh L không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có dấu hiệu của tội phạm.
[10] Đối với Phạm Minh Đ có tổ chức uống bia cùng các bị can nhưng các bị can lợi dụng để chiếm đoạt tài sản của P2, Đ không biết mục đích của các bị cáo là lừa đảo chiếm đoạt tài sản của P2 nên không có dấu hiệu tội phạm.
[11] Đối với Trịnh Thị S2 đi cùng các bị cáo về nhà Đ, nhưng S2 không biết mục đích của các bị cáo là lừa đảo chiếm đoạt tài sản của P2. Đồng thời hiện S2 không rõ nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập làm việc được. Khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[12] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Thái Lộc P2 có đại diện hợp pháp là bà Lê Thị Thu T3 yêu cầu bị cáo Đinh Văn V bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Trọng S1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn V đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng và bồi thường cho anh Trần Trọng S1 số tiền 8.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[13] Về xử lý vật chứng:
[13.1] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trao trả cho chủ sở chị Lê Thị Thu T3: 01 (một) xe mô tô loại Wave Anpha, màu trắng, mang biển kiểm soát 63B2-917.85 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[13.2] Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu World, màu trắng, mang biển kiểm soát 60H6-27.09 kèm theo giấy đăng ký xe của bị cáo Đinh Văn V là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao xe cho Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[13.3] Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, kèm theo sim là tài sản của bị cáo Trần Thị Ngọc T1 không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo T1.
[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo V, D, M1, T1 bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án nên buộc bị cáo V, D, M1, T1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và bị cáo V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với số tiền bồi thường cho bị hại và người liên quan tổng cộng 18.000.000 đồng với tiền án phí là 18.000.000 đồng x 5% = 900.000 đồng.
[15] Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận một phần đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
[16] Xét ý kiến và đề nghị của phía người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu D và Trần Thị Ngọc T1 là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận lời đề nghị của phía người bào chữa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1, Trần Thị Ngọc T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 174; Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2024.
Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 174; Điều 17, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2024.
Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 174; Điều 17, điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chúc M1 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 174; Điều 17, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ngọc T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
-
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tiếp tục giao 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu World, màu trắng, mang biển kiểm soát 60H6-27.09 kèm theo giấy đăng ký xe của bị cáo Đinh Văn V cho Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Trần Thị Ngọc T1: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, kèm theo sim.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 22/4/2024).
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự và hướng dẫn của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Ghi nhận bị cáo Đinh Văn V tự nguyện bồi thường cho bị hại Thái Lộc P2 (đại diện theo hợp pháp là bà Lê Thị Thu T3) số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng) và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Trọng S1 số tiền 8.000.000 đ (Tám triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đinh Văn V phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đ (Chín trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1 và Trần Thị Ngọc T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Đinh Văn V, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Chúc M1 và Trần Thị Ngọc T1, bà Trần Thị G là đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Thị Ngọc T1, bà Lê Thị Thu T3 là đại diện hợp pháp cho bị hại Thái Lộc P2, bà Trần Lan A người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu D, bà Nguyễn Thị Thanh T2 người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Ngọc T1 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn D1 là đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hữu D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Minh Đ, Trần Trọng S1, Vũ Đình L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
(Đã ký)
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Thoa |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
