|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HSST Ngày 07/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Đình Hưng;
- Bà Vi Thị Ngọc Diệp;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Thêu – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST - HS ngày 05/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 22/4/2024 đối với bị cáo:
Triệu Văn T
tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/01/1988 tại Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Triệu Văn T1 và bà: Hoàng Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 21/12/2023, sau đó được tại ngoại cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Chị Hoàng Thị D; sinh năm 1984; trú tại: Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/12/2023 tại khu vực tổ B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang đối với Triệu Văn T, sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trong túi quần đằng trước bên phải Triệu Văn T đang mặc có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 (một) gói được gói bằng giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất dạng cục và bột màu trắng nghi là chất ma túy (được niêm phong trong phong bì kí hiệu T1). Thu giữ bên trong túi áo khoác đằng trước bên phải Triệu Văn T đang mặc có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy (được niêm phong trong phong bì kí hiệu T2). Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 97B1 - 825.12 cùng chìa khóa đã qua sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp tại địa điểm và chỗ ở của Triệu Văn T tại phòng 206, nhà nghỉ T3 thuộc tổ D, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn (Do trước thời điểm bị bắt quả tang Triệu Văn T đến thuê nhà nghỉ T3 vào ngày 14/12/2023). Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành cân xác định khối lượng toàn bộ số chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì T1 có khối lượng là 0,17g (không phẩy một bảy gam), sau khi cân niêm phong số chất dạng cục và bột màu trắng vào phong bì kí hiệu A1 gửi giám định; Số chất bột màu trắng phong trong phong bì kí hiệu T2 có khối lượng 0,01g (không phẩy không một gam), sau khi cân niêm phong số chất bột màu trắng vào phong bì kí hiệu A3 gửi giám định. Phong bì, vỏ bao thuốc lá T4, giấy gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu A2 và A4 bảo quản theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Triệu Văn T khai nhận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/12/2023 Triệu Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 97B1 - 825.12 đi từ nhà ở của T tại thôn B, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đến nhà chị Hoàng Thị D, sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để đón chị D cùng đi đến thành phố B, tỉnh Bắc Kạn chơi. Khi đi đến thành phố B thì T có thuê 01 (một) phòng nghỉ để nghỉ qua đêm cùng chị Hoàng Thị D tại nhà nghỉ T3 thuộc tổ D, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/12/2023 Triệu Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1 - 825.12 đi từ nhà nghỉ T3 đến khu vực bờ đê thuộc tổ B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông lạ mặt (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), qua nói chuyện T hỏi người đàn ông này có bán ma túy không thì người đàn ông này bảo có, ngay sau đó T đưa cho người đàn ông này 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), người đàn ông nhận tiền và đưa cho T 02 (hai) gói ma túy, loại Heroin. Sau khi mua được ma túy Trường C (một) gói được gói bằng giấy hai mặt đều màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất dạng cục và bột màu trắng là ma túy, loại Heroin vào trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và cất giấu vào trong túi quần đằng trước bên phải mà T đang mặc; còn 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy (loại H), T cho vào trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và cất giấu vào trong túi áo khoác đằng trước bên phải mà T đang mặc. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng ma túy, khi đang trên đường đi thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy, Công an thành phố B bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 02/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 và mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A3 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
+ Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng là 0,17g (không phẩy một bảy gam).
+ Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A3 có khối lượng là 0,01g (không phẩy không một gam).
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu A3 đã dùng để giám định hết, mẫu chất trong phong bì ký hiệu A1 còn lại 0,11g (không phẩy một một gam), cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T02 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTPBK, ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Triệu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật có nội dung:
- Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- c) Heroine.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tại phiên tòa:
*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Triệu Văn T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 21/12/2023.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- -Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T02; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A4.
- - Tịch thu hóa giá nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô số khung: RLHJA3906HY856664, số máy JA39E0836832, loại xe: Hai bánh từ 50 – 175cm³, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE, dung tích xi lanh: 109cm³, màu sơn đen, trắng, bạc. Xe có biển kiểm soát 97B1- 825.12 cùng chìa khóa xe, kèm theo 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 97010415, do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 24/8/2021, tên chủ xe Triệu Văn T (Bản chính).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
*Bị cáo Triệu Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/12/2023 tại khu vực tổ B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Triệu Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,18g (không phẩy một tám gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.
Triệu Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật tuy nhiên do nghiện chất ma túy nên đã cố ý tàng trữ trái phép 0,18g (không phẩy một tám gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Triệu Văn T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cảỉ” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T02 và dòng chữ: “Mẫu hoàn trả vụ: Triệu Văn T (1988) tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, chứa chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu A2 và dòng chữ: “Phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Trường”, 01 (một) dòng chữ “Triệu Văn T” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu A4 và dòng chữ: “Phong bì cũ T2, giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Trường”, 01 (một) dòng chữ “Triệu Văn T” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô số khung: RLHJA3906HY856664, số máy JA39E0836832, loại xe: Hai bánh từ 50 – 175cm³, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE, dung tích xi lanh: 109cm³, màu sơn đen, trắng, bạc. Xe có biển kiểm soát 97B1- 825.12 cùng chìa khóa xe, là phương tiện phạm tội, cần tịch thu hoá giá nộp ngân sách Nhà nước.
- - Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Triệu Văn T có giao nộp cho Toà án 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 97010415, do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 24/8/2021, tên chủ xe Triệu Văn T (Bản chính). Đây là Giấy chứng nhận đăng ký của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1- 825.12 là phương tiện phạm tội, cần chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để xử lý theo thẩm quyền.
[8] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và đã có đơn xin miễn án phí do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Triệu Văn T vào ngày 15/12/2023, do T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 21/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T02 và dòng chữ: “Mẫu hoàn trả vụ: Triệu Văn T (1988) tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu A2 và dòng chữ: “Phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Trường”, 01 (một) dòng chữ “Triệu Văn T” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu A4 và dòng chữ: “Phong bì cũ T2, giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) chữ ký tên “Trường”, 01 (một) dòng chữ “Triệu Văn T” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
Tịch thu hóa giá nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô số khung: RLHJA3906HY856664, số máy JA39E0836832, loại xe: Hai bánh từ 50 – 175cm³, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE, dung tích xi lanh: 109cm³, màu sơn đen, trắng, bạc. Xe có biển kiểm soát 97B1- 825.12 cùng chìa khóa xe, kèm theo 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 97010415, do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 24/8/2021, tên chủ xe Triệu Văn T (Bản chính).
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Văn T.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
Bản án số 43/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 43/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn Tr phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
