Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Hùng
  2. Ông Nguyễn Danh Long

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 07/5/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST- HS, ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Như Ý, sinh ngày 02/6/1987 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Cao lan; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Trần Tiến Đ, sinh năm 1953; con bà: Hoàng Thị S, sinh năm 1953; Vợ: Lăng Thị Đ1, sinh năm 1990; con: có 03, con thứ nhất sinh năm 2011, con thứ hai sinh năm 2014, con thứ ba sinh năm 2023 (đã chết); A, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ 05.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại: Chị Hoàng Phương D, sinh năm 1987; trú tại: Thôn Y, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2021, Hoàng Phương D đi làm tại khu công nghiệp B, tỉnh Vĩnh Phúc có quen biết và phát sinh quan hệ yêu đương với Trần Như Ý. Quá trình yêu nhau D và Ý đã tự nguyện quan hệ tình dục với nhau, khi quan hệ Ý đã dùng điện thoại di động cá nhân của mình đã chụp lại hình ảnh Ý và D đang quan hệ tình dục, ảnh Ý và D nằm trên giường trong tình trạng khỏa thân, ảnh D dùng miệng ngậm dương vật của Ý, ảnh dương vật của Ý đút vào âm đạo của D và quay một đoạn video có độ dài khoảng 10 giây ghi lại việc D dùng miệng ngậm dương vật của Ý rồi lưu những hình ảnh đó trong điện thoại di động của mình.

Khoảng tháng 02/2022 D nghỉ làm công ty và về sinh sống tại nhà mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Q tại thôn Y, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nên D và Ý đã chia tay. Khoảng tháng 5/2022 do níu kéo không được và bực tức nên Ý đã sử dụng Z “Cho đi là còn mãi” đăng ký bằng số điện thoại 0326.198.xxx của Ý, đăng nhập trên ứng dụng Zalo đã được cài đặt trong điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 của mình để gửi các hình ảnh nhạy cảm của Ý và D cho D. Đồng thời gửi 05 hình ảnh nhạy cảm (ảnh Ý và D đang quan hệ tình dục, ảnh Ý và D nằm trên giường trong tình trạng khỏa thân, ảnh D dùng miệng ngậm dương vật của Ý, ảnh dương vật của Ý đút vào âm đạo của D) và một đoạn video có độ dài khoảng 10 giây ghi lại việc D dùng miệng ngậm dương vật của Ý từ Zalo của mình đến tài khoản Zalo “H” của Hoàng Trung S1, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (là người quen trước đây của Ý). Sau khi S1 nhận được những bức ảnh và video trên S1 đã xóa hết các bức ảnh, video và không liên lạc với Ý nữa. Ngoài ra ngày 10/9/2023 từ tài khoảng Facebook “Nguyen Van Anh” đã gửi những hình ảnh nhạy cảm trên cho bạn của D là Nguyễn Hồng H, sinh năm 1993; Lương Thị H1, sinh năm 1994, cùng trú tại thôn N, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Tiểu L, sinh năm 2002, trú tại thôn L, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Mai T, sinh năm 2002, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Khi được bạn mình thông báo về việc nhận được những hình ảnh nhạy cảm của mình, chị D thấy rất nhục nhã, xấu hổ và cho rằng người gửi hình ảnh trên là Trần Như Ý, nên chị D đã trình báo cơ quan CSĐT Công an huyện S.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Như Ý khai: Bản thân Ý chỉ sử dụng Zalo “Cho đi là còn mãi” gửi 05 hình ảnh nhạy cảm và 01 đoạn video clip đến tài khoản Zalo “H” của Hoàng Trung S1 và gửi các hình ảnh nhạy cảm của Ý và D cho D. Ý không được sử dụng tài khoản Facebook “Nguyen Van A” để gửi các hình ảnh nhạy cảm trên cho Lương Thị H1, Nguyễn Tiểu L, Nguyễn Mai T, Nguyễn Hồng H. Với những tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không đủ căn cứ chứng minh Ý dùng tài khoản Facebook “Nguyen Van A” để gửi ảnh cho Lương Thị H1, Nguyễn Tiểu L, Nguyễn Mai T và Nguyễn Hồng H.

Tại Kết luận giám định số 1299/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trong điện thoại gửi giám định tìm thấy:

  • + 77482 tệp tin hình ảnh và 503 tệp tin video;
  • + 1420 tệp tin âm thanh.

Tại Kết luận giám định ngày 15/12/2023 của Sở thông tin và truyền thông Ủy ban nhân dân tỉnh T, kết luận:

  • + Tài liệu đủ căn cứ giám định: 07 bản sao y ảnh chụp màn hình điện thoại có chứa mẫu nội dung tin nhắn, hình ảnh do chị Hoàng Phương D giao nộp.
  • + Căn cứ Luật an ninh mạng, nội dung tin nhắn các hình ảnh nhạy cảm mà Trần Như Ý đã gửi cho chị Hoàng Phương D (07 bản sao y ảnh chụp màn hình điện thoại có chứa mẫu nội dung tin nhắn, hình ảnh do chị Hoàng Phương D cung cấp) vi phạm điểm a, khoản 3 Điều 16 xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác.

Tại Kết luận giám định số 89/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trong điện thoại gửi đi giám định, tìm thấy 04 (bốn) tài khoản đã đăng nhập vào ứng dụng Facebook gồm: N (ID:10000945890794), Ghến P (ID:100081107292628), Hồ Tạ D1 (ID:100071693245781), Cũng Khác Ai Rồi (ID:61550043036920). Không xác định được lịch sử đăng nhập của các tài khoản này. Tìm thấy 9429 tin nhắn Messenger (Facebook) đi, đến từ tài khoản có tên: Nhu Y (ID:10000945890794).

Cáo trạng số 42/CT-VKSSD, ngày 04/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Trần Như Ý về tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Trần Như Ý phạm tội “Làm nhục người khác”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 155; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Như Ý từ 03 đến 06 tháng tù, cho hưởng án treo. Thử thách 01 năm, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã Đ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về dân sự: Đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị D 30.000.000đ.
  • - Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, kiểu máy CPH1825, số IMEI1 là: 866376048021775; số IMEI2 là: 866376048021767, bên trong có lắp 02 sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình của Trần Như Ý.
  • - Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Như Ý đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 5/2022 Trần Như ý đã sử dụng tài khoản Z “Cho đi là còn mãi” để gửi các hình ảnh nhạy cảm của ý và Hoàng Phương D cho D. Đồng thời gửi 05 hình ảnh nhạy cảm (ảnh Ý và D đang quan hệ tình dục, ảnh Ý và D nằm trên giường trong tình trạng khỏa thân, ảnh D dùng miệng ngậm dương vật của Ý, ảnh dương vật của Ý đút vào âm đạo của D) và một đoạn video có độ dài khoảng 10 giây ghi lại việc D dùng miệng ngậm dương vật của Ý từ Zalo của ý đến tài khoản Zalo “H” của Hoàng Trung S1. Hành vi của Ý đã xúc phạm nghiêm trong danh dự, uy tín, nhân phẩm của Hoàng Phương D.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Trần Như Ý về tội “làm nhục người khác” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bức xúc, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Xuất phát từ việc yêu đương nam nữ dẫn đến việc bị cáo chụp và lưu lại những hình ảnh, video nhạy cảm, khi bị hại chấm dứt quan hệ yêu đương với bị cáo, thì bị cáo đã dùng tài khoản mạng xã hội để gửi những hình ảnh, video đó đến bạn bè, người quen của bị hại, khiến bị hại cảm thấy nhục nhã, xấu hổ, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, cuộc sống bình thường của bị hại. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; lần phạm tội này là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại Hoàng Phương D không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự, nhưng tại phiên tòa chị D yêu cầu bị cáo phải bồi thường danh dự, nhân phẩm cho chị số tiền 30.000.000đ. Bị cáo Ý nhất trí với đề nghị của chị D.

HĐXX xét thấy sự thỏa thuận giữa chị D và bị cáo là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên ghi nhận sự thỏa thuận trên.

[6] Về vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, kiểu máy CPH1825, số IMEI1 là: 866376048021775; số IMEI2 là: 866376048021767, bên trong có lắp 02 sim, sim 1: 0326198704, sim 2: 0978596143, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình của Trần Như Ý.

Đây là phương tiện, công cụ Trần Như Ý dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[7] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo Trần Như Ý phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định. Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm e khoản 2 Điều 155; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS;

Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106; Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Các Điều 584; 585; 586; 592; 357 Bộ luật Dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Như Ý phạm tội “Làm nhục người khác”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Như Ý 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/5/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về dân sự:

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần Như Ý và chị Hoàng Phương D: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho chị Hoàng Thị Phương D2, tổng số tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

Khoản tiền bồi thường kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và chị D2 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, nếu bị cáo chậm trả thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, kiểu máy CPH1825, số IMEI1 là: 866376048021775; số IMEI2 là: 866376048021767, bên trong có lắp 02 sim, sim 1: 0326198704, sim 2: 0978596143, điện thoại cũ đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình của Trần Như Ý.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng là 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện SD;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - UBND xã Đại Phú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Minh Hùng – Nguyễn Danh Long

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự về tội làm nhục người khác

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Làm nhục người khác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tran Nhu Y có quan hệ yêu đương với chị Hoang Phuong D, sau khi chia tay đã dùng điện thoại gửi đi những hình ảnh nhạy cảm của hai người cho gia đình, bạn bè của chị D.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger