Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Hải
  2. Bà Lê Thị Kim Uyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa: Bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Phước Thị Trúc L, sinh năm 1988
  • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm A, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

    Nơi ở hiện tại: Số B Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

  • Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1985
  • Địa chỉ: Số C Ấp C, xã B, thành phố T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 02 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phước Thị Trúc L1 trình bày:

Bà và ông Trần Minh T kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Long An vào năm 2009. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T thường xuyên đi nhậu không lo cho gia đình, lúc đi nhậu về nhà ông T thường xuyên kiếm cớ ghen tuông, có lời lẽ xúc phạm bà. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến ly thân nhiều lần. Vợ chồng sống không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trần Minh T.

Về con chung: có 01 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 24/11/2008. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Trần Minh T1, sinh ngày 24/11/2008, không yêu cầu ông Trần Minh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 23/4/2024, và và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Trần Minh T trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà P về thời gian, điều kiện kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đôi lúc ông nhậu say và có lời lẽ xúc phạm bà L1 dẫn đến vợ chồng thường cự cãi và dẫn đến ly thân nhiều lần. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay. Nay ông nhận thấy còn tình cảm với bà L1 nên không đồng ý ly hôn với bà L1.

Về con chung: có 01 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 24/11/2008. Trường hợp Toà án cho ông và bà L1 ly hôn thì ông đồng ý giao con chung tên Trần Minh T1 cho bà L1 trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung do bà L1 không có yêu cầu.

Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà L1 và ông T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L1 đối với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L1, cho bà L1 ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng 01 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 24/11/2008. Hiện con chung đang sống với bà L1, bà L1 yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, cháu Trần Minh T1 đang sống với bà L1 và nguyện vọng của cháu muốn được sống với bà L1. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định và phát triển mọi mặt của con chung nên giao con chung tên Trần Minh T1 cho bà Phước Thị Trúc L1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tài sản chung, nợ chung: bà L1 và ông T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Bà Phước Thị Trúc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: B có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Minh T có địa chỉ cư trú tại Số C Ấp C, xã B, thành phố T, tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 203, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên toà. Quá trình tố tụng, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phước Thị Trúc L và ông Trần Minh T có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 01 năm 2009 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, bà L và ông T chung sống hạnh phúc được thời gian đầu và có 01 con chung. Sau đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T thường xuyên đi nhậu và không lo cho gia đình, lúc đi nhậu về nhà ông T thường xuyên kiếm cớ ghen tuông, có lời lẽ xúc phạm bà L. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến ly thân nhiều lần. Vợ chồng sống không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay, ông T vẫn không tích cực liên lạc với bà L để tìm biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, ông T cũng không có biện pháp hữu hiệu để hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà L trong khi bà L vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông T. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông T đã trầm trọng và kéo dài nhiều năm không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L, cho bà L được ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Bà Phước Thị Trúc L và ông Trần Minh T có 01 con chung tên Trần Minh T1, sinh ngày 24/11/2008 hiện đang sống chung với bà L.

Trong quá trình tố tụng, bà L yêu cầu nuôi dưỡng con chung, ông T có ý kiến trong trường hợp Toà án cho ông và bà L ly hôn thì ông đồng ý giao con chung tên Trần Minh T1 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, đây là ý kiến tự nguyện của ông T. Tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 24/4/2024, cháu Trần Minh T1 có nguyện vọng muốn sống với mẹ là bà L. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt của con chung, tránh thay đổi về môi trường sống và học tập của con chung, nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà L là phù hợp và có căn cứ tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của bà Phước Thị Trúc L1, giao con chung chưa thành niên tên Trần Minh T1, sinh ngày 24/11/2008 cho bà Phước Thị Trúc L1 trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà Phước Thị Trúc Linh tự nguyện không yêu cầu ông Trần Minh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét đề cập.

Trong trường hợp sau khi ly hôn các đương sự có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật

[5] Về tài sản chung, nợ chung: bà L1 và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

[6] Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bà Phước Thị Trúc L có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của bà Phước Thị Trúc L, cho bà Phước Thị Trúc L1 được ly hôn với ông Trần Minh T.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung chưa thành niên tên Trần Minh T1, sinh ngày 24/11/2008 cho bà Phước Thị Trúc L1 được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trần Minh T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà Phước Thị Trúc L1 không có yêu cầu.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

    Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  4. Về án phí: Bà Phước Thị Trúc L phải có nghĩa vụ chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Phước Thị Trúc Linh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001513 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An thành án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - Chi cục THADS TP. Tân An;
  • - UBND cấp xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Linh "ly hôn" Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger