|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-6-2024. (V/v: Ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung). |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Hòa.
- Bà Lê Thị Kiều Thu.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/02/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2023/QÐST-HNGĐ ngày 28/4/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thu L – sinh năm 1983
Nơi cư trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Nguyễn Đình P – sinh năm 1979
Nơi cư trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn và bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại nội dung đơn kiện, bản khai nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Đình P tự tìm hiểu, quen biết nhau, chung sống vào năm 2002 nhưng không có đăng ký kết hôn nhưng có đăng ký cùng hộ khẩu gia đình. Trong thời gian sống chung, bà làm nghề buôn bán, ông P làm biển, kinh tế có khó khăn. Từ năm 2019 ông P có dùng hung khí đâm bà, từ đó cho đến nay, ông P ít đi làm, không lo cho vợ con, chỉ lo chơi bời. Từ tháng 12/2023 cho đến nay, tuy vợ chồng sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống. Nay, bà nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa. Vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đình P.
- Về con chung: Ông, bà có 02 con chung tên Nguyễn Hoài Thanh D (nữ), sinh ngày 08/4/2003, Nguyễn Hoài N (nam), sinh ngày 29/9/2014. Hiện nay D đã đủ tuổi trưởng thành, muốn ở với ai thì tùy theo ý các con, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng con chung tên Nguyễn Hoài N bà có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: ông bà có tạo lập được một căn nhà cấp 4 tại khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (chưa có giấy tờ) trị giá 300.000.000 đồng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được sở hữu nhà để ở và nuôi con và bà đồng ý giao số tiền 150.000.000 đồng cho ông P.
Ngày 14/5/2024, bà L có nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu chia tài sản chung. Nếu sau này có tranh chấp bà sẽ khởi kiện sau.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà L trình bày: Bà vẫn giữ ý kiến đã trình bày, bà L xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau và đã tự sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, không thay đổi, bổ sung gì thêm.
Tại biên bản hòa giải bị đơn ông Nguyễn Đình P trình bày: Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Đỗ Thị Thu L tự nguyện tìm hiểu, sống chung vào năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn từ đó cho đến nay. Vợ chồng sống với nhau cũng không tránh khỏi mâu thuẫn nhưng nhỏ nhặt, không có gì lớn lâu lâu mới xảy ra cải vã. Ngoài ra bà L thường xuyên nhắn tin người khác nên tôi mới ghen nên vợ chồng mới cãi nhau. Vợ chồng vẫn sống chung nhà. Nay bà L làm đơn ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Hoài Thanh D (nữ)– sinh ngày 08/4/2003, Nguyễn Hoài N (nam)–sinh ngày 29/9/2014. Ông không đồng ý ly hôn nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung: ông không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản, nhà chỉ để vợ chồng ở mà thôi.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà ông P không đồng ý ly hôn, muốn vợ chồng quay trở về chung sống. Về con chung, tài sản chung, nợ chung vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày, không thay đổi, bổ sung gì thêm.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau :
- Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Tại phiên tòa hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
- Về nội dung: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện hôn nhân của bà Đỗ Thị Thu L và ông Nguyễn Đình P, ông bà tự nguyện chung sống vào năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống ông bà hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn như trước, không ai quan tâm đến ai. Tại các buổi hòa giải ông P không đồng ý ly hôn nhưng Toà án cũng cho vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng ông bà vẫn sống ly thân nhau, mặt khác ông bà chung sống nhưng không đăng ký kết hôn như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng của ông bà không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó: căn cứ vào khoản 7 Điều 3, khoản 3 Điều 4, Điều 53, Luật HNGĐ 2014 đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông P.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Hoài Thanh D (nữ), sinh ngày 08/4/2003, Nguyễn Hoài N (nam), sinh ngày 29/9/2014. Hiện nay cháu D đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng con chung tên Nguyễn Hoài N bà L có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N nên đề nghị giao cháu N cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng tiền nuôi con nên không xét.
Về tài sản chung: Bà L xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về chia tài sản chung nên đề nghị Toà án đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện. ông P không có yêu cầu phản tố về tài sản nên nếu có tranh chấp ông P có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Về nợ chung: Bà L, ông P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên VKS không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát thành phố P, hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bà Đỗ Thị Thu L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Bị đơn là ông Nguyễn Đình P hiện cư trú tại phường Đ, thành phố P. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: ông bà tự nguyện chung sống vào năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, bà L thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn hợp nhau, không có tiếng nói chung, không còn tôn trọng nhau, thường xuyên cải vã. Từ đó cho đến nay, vợ chồng mặc dù sống chung nhà nhưng sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống. Tại biên bản hòa giải ông P không đồng ý ly hôn nhưng ông P cũng không tìm cách để vợ chồng hàn gắn. Mặt khác, tại biên bản xác minh địa phương gồm UBND phường Đ và UBND phường B cho biết hiện nay trên hệ thống phần mềm dữ liệu kết hôn tại địa phương không có tên đăng ký Đỗ Thị Thu L và Nguyễn Đình P. Như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 7 Điều 3, khoản 3 Điều 4, Điều 14, Điều 53 Luật HNGĐ 2014 Hội đồng xét xử xử không công nhận quan hệ giữa bà Đỗ Thị Thu L và ông Nguyễn Đình P là quan hệ vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Ông P, bà L khai có 2 con chung tên Nguyễn Hoài Thanh D (nữ), sinh ngày 08/4/2003, Nguyễn Hoài N (nam), sinh ngày 29/9/2014. Sau khi ly hôn bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con là cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cháu D đã đủ tuổi trưởng thành, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Bà L khai có 01 căn nhà cấp 4 tại khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (chưa có giấy tờ) trị giá 300.000.000 đồng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được sở hữu nhà để ở và nuôi con và bà đồng ý giao số tiền 150.000.000 đồng cho ông P.
Ngày 14/5/2024, bà L có nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu chia tài sản chung. Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xét trong vụ án này. Sau này nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[2.4] Về nợ chung: Bà L, ông P không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 7 Điều 3, khoản 3 Điều 4, Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1/Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Đỗ Thị Thu L và ông Nguyễn Đình P là quan hệ vợ chồng.
2/ Về con chung: Ông P, bà L khai có 2 con chung tên Nguyễn Hoài Thanh D (nữ), sinh ngày 08/4/2003, Nguyễn Hoài N (nam), sinh ngày 29/9/2014.
Giao con chung tên Nguyễn Hoài N cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L không yêu cầu ông phú cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Ông P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai có quyền cản trở.
Cháu D đã đủ tuổi trưởng thành, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3/ Về tài sản chung: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu chia tài sản chung.
Bị đơn ông P không có yêu cầu phản tố chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét trong vụ án này. Sau này nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
4/ Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
5/ Về án phí: Bà Đỗ Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Ngày 29/01/2024, bà L đã nộp 4.050.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết thu theo biên lai số 0001248, nay chuyển 300.000 đồng sang án phí và sung công quỹ nhà nước. H lại cho bà L số tiền 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí.
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt nguyên đơn và bị đơn các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (06/6/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Phan Thị Thái |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết - Tỉnh Bình Thuận về ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết - Tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Loan ly hôn ông Phú
