Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TX A- TỈNH GIA LAI

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày: 04-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TX A- TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Văn Thị Thu Vân và bà Võ Thị Trúc

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Thanh H, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2004 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh P và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 24 tháng 10 năm 2021 bị Công an xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính 375.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31 tháng 8 năm 2023 đến ngày 09 tháng 9 năm 2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
  2. Phạm Văn P1, sinh ngày 30 tháng 8 năm 2003 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Lê Thị Thu H1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 24 tháng 10 năm 2021 bị Công an xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31 tháng 8 năm 2023 đến ngày 09 tháng 9 năm 2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
  3. Nguyễn Hữu D, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2003 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu D1 và bà Đặng Thị H2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 31 tháng 8 năm 2023 đến ngày 09 tháng 9 năm 2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
  4. Huỳnh Dương K, sinh ngày 29 tháng 9 năm 2005 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Tổ F, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L và bà Huỳnh Thị Thu T2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 08 tháng 5 năm 2024 bị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 16 tháng 11 năm 2023; hiện nay bị cáo đang chấp hành hình phạt tù theo quyết định thi hành án hình phạt tù số 25/2024/QĐ-CA ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Phạm Khánh H3, ngày 01 tháng 4 năm 2007; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.
  2. Phạm Anh K1, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1998; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
  3. Phạm Văn C, sinh ngày 20 tháng 7 năm 2000; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.
  4. Lê Thị Thu H1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.
  5. Dương Yến N, sinh năm 2004; nơi cư trú: Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

- Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Khánh H3: Ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị T3 là cha, mẹ đẻ của Phạm Khánh H3 ; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Lê Thanh T4, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 ngày 30 tháng 08 năm 2023, Phạm Văn P1 tổ chức sinh nhật tại nhà ở thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai, có mời Nguyễn Hữu D, Lê Thanh H, Phạm Anh K1, Phạm Khánh H3, Phạm Văn C và một số bạn bè của P1 đến nhà dự tiệc sinh nhật. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H gọi D và P1 ra trước nhà P1 rủ D và P1 góp tiền mua ma túy về sử dụng, thì P1 và D đồng ý. Sau khi bàn bạc thống nhất, P1 góp 150.000 đồng, D góp 200.000 đồng và đưa cho H 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone6 Plus màu vàng kem bên trong gắn sim số 0363.146.531 nói với H đi thế chấp vay tiền, bữa sau lấy lại, H góp 150.000 đồng, tổng cộng góp được 500.000 đồng cùng 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone6 Plus. Sau đó, P1 vào nói với H3 là anh em họ hàng với P1 cho mượn nhà để mấy anh em nhậu xong lên ngủ thì H3 đồng ý. Sau đó, H3 về nhà bà Lê Thị N1 ở thôn A, xã X, thị xã A là bà nội của H3 ngủ. Còn H cầm số tiền góp được đi mua bia hết 195.000 đồng mang về nhà P1 nhậu tiếp. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, H nói với P1 để H đi mua ma túy, P1 đồng ý và nói với H sau khi mua ma túy thì đưa về nhà H3 sử dụng. H cầm số tiền đã góp trước đó, còn lại 305.000 đồng cùng chiếc điện thoại di động hiệu Iphone6 Plus của D, rồi điều khiển xe mô tô biển số 81G1-252.68 đi mua ma túy. Trên đường đi, H dùng điện thoại hiệu Iphone6 Plus của D gọi vào số 0971.688.438 của điện thoại di động hiệu Nokia của Huỳnh Dương K để hỏi mua 500.000 đồng ma túy, K đồng ý bán ma túy cho H và nói H đến đường bê tông sau Trường Trung học phổ thông Q để nhận ma túy. Sau đó, K dùng điện thoại di động hiệu Iphone6S gọi qua Z cho người tên D2, không rõ họ tên, địa chỉ, lai lịch để mua 500.000 đồng ma túy, thì D2 đồng ý và hẹn K đến cuối đường bê tông thuộc Tổ E, phường A, thị xã A để nhận ma túy. K đi xe điện màu xanh (không có biển số) nhãn hiệu ESPERO, số loại GOGOe, số khung RPEYGENPELA312605, số máy JYX60V1500W812605 một mình đến cuối đường, sát bờ Sông B gặp D2, K đưa cho D2 500.000 đồng, D2 đưa K một gói ma túy bỏ trong vỏ gói thuốc hiệu Golden Eagle (hiệu con ó) đã bị móp méo. Sau khi mua được ma túy, K đưa về phòng trọ ở Tổ F, phường T, thị xã A mở ra thấy một gói nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể, K biết đó là ma túy đá. Khoảng 22 giờ cùng ngày, H đến đường bê tông trước Trường Trung học phổ thông Q thuộc Tổ A, phường A, thị xã A không thấy K nên tiếp tục dùng máy điện thoại của D gọi vào số 0971.688.438 của K hỏi K đến chưa, K nói H chờ. Sau đó, K điều khiển xe máy điện màu xanh đến điểm hẹn. Khi cách H khoảng 01m, K ném vỏ gói thuốc lá hiệu con ó bên trong có gói ma túy xuống lề đường và dừng xe bên phải. H đi đến gặp K và đưa cho K 300.000 đồng cùng chiếc điện thoại di động hiệu Iphone6 Plus và nói với K cầm cố chiếc điện thoại ngày mai lấy. K đồng ý và nói cho H biết ma túy ở trong gói thuốc con ó, rồi lái xe về phòng trọ. H nhặt vỏ gói thuốc lá con ó lên mở ra xem, thấy bên trong có 01 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể thì H biết đó là ma túy đá nên bỏ vào túi quần mang về nhà H3. Khi về đến nhà H3, lúc này trong phòng ngủ thứ nhất có Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D, Phạm Anh K1 và Phạm Văn C. H cầm gói ma túy đá đưa P1, Phong cầm gói ma túy đi ra phía sau nhà lấy một chai nhựa nắp màu vàng có nước, nửa lưỡi dao lam và hai ống hút nhựa mang vào phòng dùng dao lam cắt đoạn ống hút nhựa dài khoảng 06 cm, P1 lấy trong người đoạn ống thủy tinh có đầu phình to hình cầu (nỏ) ra và dùng bật lửa hơ đoạn ống thủy tinh nóng lên đục hai lỗ trên nắp chai, một lỗ gắn ống hút nhựa, một lỗ gắn nỏ tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Chuẩn bị xong, P1 mang bộ dụng cụ và gói ma túy vào phòng ngủ có Hiếu, D, K1 và C đang ngồi trên giường. P1 lấy gói ma túy cắt một đầu, dùng đoạn ống hút có đầu vát nhọn xúc ma túy đá trong gói nilon đổ vào nỏ, cầm bật lửa nấu (đốt) ma túy đá trong nỏ để ma túy bốc hơi và sử dụng (hút) một hơi, sử dụng xong P1 bỏ bộ dụng cụ xuống giường, H cầm bộ dụng cụ, bật lửa nấu ma túy trong nỏ sử dụng xong đặt xuống thì D, K1 và C tiếp tục tự lấy sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy, cả nhóm để bộ dụng cụ sử dụng trên giường và nằm ngủ.

Đến 08 giờ 00 phút ngày 31 tháng 8 năm 2023, Công an xã X, thị xã A đến kiểm tra cư trú, thấy vậy P1 rút nỏ thủy tinh bên trong bám dính chất màu nâu ném vào góc nhà, gần tủ quần áo làm vỡ thành nhiều mảnh, trên giường còn chai nhựa đựng nước, nắp màu vàng đục hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa, một lỗ rỗng. Phạm Văn C thấy Công an xã X, thị xã A đến thì bỏ trốn. Công an xã X, thị xã A lập biên bản ghi nhận nội dung sự việc và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A giải quyết. Sau khi tiếp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tiến hành khám xét khẩn cấp, khám nghiệm hiện trường và thu giữ các vật chứng gồm:

  • 01 mảnh nylon bị nhiệt hóa bám dính chất màu nâu và tinh thể màu trắng (nghi là ma túy);
  • 02 hộp quẹt (bật lửa) màu đỏ;
  • 01 bình gas loại nhỏ màu xanh bên trên chữ “IKURA”;
  • 01 khò gas màu vàng cam;
  • 04 (bốn) mảnh thủy tinh còn bám dính ít chất rắn màu nâu;
  • 03 (ba) mảnh thủy tinh không màu;
  • 01 (một) đoạn ống thủy tinh;
  • 01 chai nước bằng nhựa (loại chai nước ngọt Sting) không có nhãn mác bên trên nắp có 02 lỗ;
  • 01 ống hút màu vàng sọc đỏ;
  • 01 ống hút màu cam sọc trắng;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO đã qua sử dụng IMEIL: 860646044613759;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME đã qua sử dụng IMEI: 864751068542672129;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng số IMEI1: 35528084214863/01;
  • 01 (một) xe mô tô mang biển số 81 G1 - 252.68.

Đối với chiếc xe điện màu xanh, không có biển số nhãn hiệu ESPERO, số loại GOGOe, số khung RPEYGENPELA312605, số máy JYX60V1500W812605 của Huỳnh Dương K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Gia Lai đang tạm giữ điều tra trong một vụ án khác.

Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone6 Plus màu vàng kem bên trong gắn sim số 0363.146.531 của Nguyễn Hữu D đưa cho Lê Thanh H thế chấp cho K để mua ma túy. Quá trình sử dụng K đã làm bể và vứt tại khu vực cống thoát nước thuộc Tổ A, phường T, thị xã A, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone6S của Huỳnh Dương K sử dụng liên lạc với đối tượng tên D2 để mua ma túy. K khai nhận đã thế chấp tại cửa hàng Đ thuộc Tổ C, phường T, thị xã A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A tiến hành làm việc với chủ tiệm điện thoại để thu giữ nhưng không còn.

Đối với chiếc điện thoại Nokia bên trong gắn sim điện thoại 0971.688.xxx mà K sử dụng liên lạc với Lê Thanh H, K đã vứt theo rác thải. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã xử lý vật chứng: Trả lại xe mô tô biển số 81G1 - 252.68 cho bà Lê Thị Thu H1 là mẹ của bị cáo Phạm Văn P1.

Tiến hành test nhanh nước tiểu thì các đối tượng gồm: Nguyễn Hữu D; Phạm Anh K1; Phạm Văn P1; Lê Thanh H đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số: 810/KL-KTHS ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh G kết luận:

Chất rắn màu nâu bám dính trên 04 (bốn) mảnh thủy tinh và chất màu trắng dạng bột bám dính trong 01 (một) gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng chất bám dính.

Sau khi giám định, Phòng K2 Công an tỉnh G đã trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A (bốn) mảnh thủy tinh còn bám dính ít chất rắn màu nâu (không cân được khối lượng, loại Methamphetamine; 03 (ba) mảnh thủy tinh không màu; 01 (một) đoạn ống thủy tinh; 01 (một) vỏ gói nilon cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C1 Công an tỉnh G, có đặc điểm: mặt trước dòng chữ “ Số 810/PC09 ngày 08 tháng 9 năm 2023”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng K2, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH sự” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phạm Thanh P2, Trần Đình N2, Bùi Sĩ T5.

Tại Bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân TX Ađã truy tố các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Huỳnh Dương K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TX Agiữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Huỳnh Dương K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D.

Đề nghị xử phạt: Lê Thanh H từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù; Phạm Văn P1 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù: Nguyễn Hữu D từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Huỳnh Dương Khang.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Dương K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù tại Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015. Truy thu số tiền 300.000 đồng mà bị cáo Huỳnh Dương K thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

  • 04 (bốn) mảnh thủy tinh còn bám dính ít chất rắn màu nâu (không cân được khối lượng, loại Methamphetamine; 03 (ba) mảnh thủy tinh không màu; 01 (một) đoạn ống thủy tinh; 01 (một) vỏ gói nilon cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C1 Công an tỉnh G, có đặc điểm: mặt trước dòng chữ “ Số 810/PC09 ngày 08 tháng 9 năm 2023”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng K2, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH sự” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phạm Thanh P2, Trần Đình N2, Bùi Sĩ T5.
  • 02 hộp quẹt (bật lửa) màu đỏ;
  • 01 bình gas loại nhỏ màu xanh bên trên chữ “IKURA”;
  • 01 khò gas màu vàng cam;
  • 01 chai nước bằng nhựa (loại chai nước ngọt Sting) không có nhãn mác bên trên nắp có 02 lỗ;
  • 01 ống hút màu vàng sọc đỏ;
  • 01 ống hút màu cam sọc trắng;

Đề nghị trả lại cho chủ sở hữu:

  • Trả lại cho bị cáo Lê Thanh H 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng số IMEI1: 35528084214863/01;
  • Trả lại cho bị cáo Phạm Văn P1 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME đã qua sử dụng IMEI: 864751068542672129;
  • Trả lại cho anh Phạm A Kỳ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO đã qua sử dụng IMEIL: 860646044613759;

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Khê, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định:

Các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D và Huỳnh Dương K là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào khoảng 21 giờ ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại thôn A, xã X, thị xã A, Lê Thanh H đã bàn bạc với Nguyễn Hữu D và Phạm Văn P1 góp tiền để mua ma túy sử dụng thì D và P1 đồng ý. H góp 150.000 đồng, P1 góp 150.000 đồng, D góp 200.000 đồng cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus để cầm cố lấy tiền mua ma túy. Sau đó, H liên lạc với Huỳnh Dương K mua 500.000 đồng tiền ma túy thì K đồng ý và hẹn H đến khu vực Trường Trung học phổ thông Q thuộc Tổ A, phường A, thị xã A để giao ma túy. Tại đây, H đưa cho K 300.000 đồng và cầm cố 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus để lấy 01 gói ma túy loại Methamphetamine, trị giá 500.000đ. Có được ma túy, H đến nhà Phạm Khánh H3 thuộc thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai đưa ma túy cho Phạm Văn P1. P1 làm bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi đưa cho Lê Thanh H, Nguyễn Hữu D, Phạm Anh K1 và Phạm Văn C tự sử dụng.

Do đó, đã đủ cơ sở tuyên bố các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1 và Nguyễn Hữu D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Huỳnh Dương K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Hữu D có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu không có tiền án, tiền sự. Các bị cáo Lê Thanh H và Phạm Văn P1 vào ngày 24 tháng 10 năm 2021 đã bị Công an xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đối với bị cáo Huỳnh Dương K, ngày 08 tháng 5 năm 2024 bị Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[6] Đánh giá vai trò, mức độ tham gia thực hiện tội phạm và quyết định hình phạt đối với các bị cáo:

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D cùng thỏa thuận góp tiền mua ma túy, lựa chọn địa điểm để sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, bị cáo Lê Thanh H đóng vai trò chính, bị cáo là người rủ rê, khởi xướng, đồng thời là người trực tiếp mua ma túy để các bị cáo và một số đối tượng khác sử dụng. Do đó bị cáo phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Tiếp theo là bị cáo Phạm Văn P1 là người làm bộ dụng cụ sử dụng ma túy, cùng tham gia góp tiền mua ma túy. Đối với Nguyễn Hữu D sau khi được Lê Thanh H rủ góp tiền mua ma túy để sử dụng, bị cáo đã đồng ý góp 200.000 đồng và đưa cho H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus để cầm cố lấy tiền mua ma túy. Vì vậy các bị cáo phải chịu hình phạt tương ứng với vai trò, mức độ tham gia thực hiện tội phạm của các bị cáo.

Đối với bị cáo Huỳnh Dương K, ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị xét xử trong vụ án này, bị cáo còn bị kết án 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang, đây là tình tiết về nhân thân để cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, đồng thời cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo trong vụ án phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không vì mục đích lợi nhuận, đối với bị cáo Huỳnh Dương K phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng thu lợi bất chính không lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Xét thấy cần buộc bị cáo Huỳnh Dương K phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 300.000 đồng để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về xử lý vật chứng:

Xét các vật chứng gồm:

  • 04 (bốn) mảnh thủy tinh còn bám dính ít chất rắn màu nâu (không cân được khối lượng, loại Methamphetamine; 03 (ba) mảnh thủy tinh không màu; 01 (một) đoạn ống thủy tinh; 01 (một) vỏ gói nilon cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C1 Công an tỉnh G, có đặc điểm: mặt trước dòng chữ “ Số 810/PC09 ngày 08 tháng 9 năm 2023”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng K2, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH sự” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phạm Thanh P2, Trần Đình N2, Bùi Sĩ T5.
  • 02 hộp quẹt (bật lửa) màu đỏ;
  • 01 bình gas loại nhỏ màu xanh bên trên chữ “IKURA”;
  • 01 khò gas màu vàng cam;
  • 01 chai nước bằng nhựa (loại chai nước ngọt Sting) không có nhãn mác bên trên nắp có 02 lỗ;
  • 01 ống hút màu vàng sọc đỏ;
  • 01 ống hút màu cam sọc trắng.

Là các vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với các vật chứng gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO đã qua sử dụng IMEIL: 860646044613759 của anh Phạm Anh K1;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME đã qua sử dụng IMEI: 864751068542672129 của bị cáo Phạm Văn P1;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng số IMEI1: 35528084214863/01 của bị cáo Lê Thanh H;

Không liên quan đến vụ án nên trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 81G1 - 252.68 thuộc sở hữu của bà Lê Thị Thu H1 mẹ đẻ của Phạm Văn P1. Vào ngày 30 tháng 8 năm 2023, P1 đưa chiếc xe mô tô này cho Lê Thanh H đi mua ma túy, bà H1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 81G1 - 252.68 cho bà H1 là có căn cứ.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 2 Điều 292; khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D;

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Dương Khang .

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị cáo Huỳnh Dương K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 31 tháng 8 năm 2023.
    • Xử phạt bị cáo Phạm Văn P1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 31 tháng 8 năm 2023.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 31 tháng 8 năm 2023.
    • Xử phạt bị cáo Huỳnh Dương K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang; buộc bị cáo Huỳnh Dương K phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù; được khấu trừ thời gian đã chấp hành hình phạt tù của Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kbang từ ngày 16 tháng 11 năm 2023 đến ngày 04 tháng 7 năm 2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tuyên án (ngày 04 tháng 7 năm 2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.

  3. Về biện pháp tư pháp:

    Buộc bị cáo Huỳnh Dương K phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

  4. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

    • 04 (bốn) mảnh thủy tinh còn bám dính ít chất rắn màu nâu (không cân được khối lượng, loại Methamphetamine; 03 (ba) mảnh thủy tinh không màu; 01 (một) đoạn ống thủy tinh; 01 (một) vỏ gói nilon cùng vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì C1 Công an tỉnh G, có đặc điểm: mặt trước dòng chữ “Số 810/PC09 ngày 08 tháng 9 năm 2023”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng K2, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH sự” và các chữ ký, chữ viết của các ông: Phạm Thanh P2, Trần Đình N2, Bùi Sĩ T5.
    • 02 hộp quẹt (bật lửa) màu đỏ;
    • 01 bình gas loại nhỏ màu xanh bên trên chữ “IKURA”;
    • 01 khò gas màu vàng cam;
    • 01 chai nước bằng nhựa (loại chai nước ngọt Sting) không có nhãn mác bên trên nắp có 02 lỗ;
    • 01 ống hút màu vàng sọc đỏ;
    • 01 ống hút màu cam sọc trắng;

    Trả lại cho bị cáo Lê Thanh H 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng số IMEI1: 35528084214863/01;

    Trả lại cho bị cáo Phạm Văn P1 01 (một) điện thoại di động hiệu REALME đã qua sử dụng IMEI: 864751068542672129;

    Trả lại cho anh Phạm A Kỳ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO đã qua sử dụng IMEIL: 860646044613759;

    (Đặc điểm, tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A và Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Khê).

  5. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D và Huỳnh Dương K mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (04 tháng 7 năm 2024) các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thị xã An Khê;
  • - Công an thị xã An Khê;
  • - Chi cục THADS thị xã An Khê;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bùi Tứ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TX A- TỈNH GIA LAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TX A- TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1, Nguyễn Hữu D và Huỳnh Dương K là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào khoảng 21 giờ ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại thôn A, xã X, thị xã A, Lê Thanh H đã bàn bạc với Nguyễn Hữu D và Phạm Văn P1 góp tiền để mua ma túy sử dụng thì D và P1 đồng ý. H góp 150.000 đồng, P1 góp 150.000 đồng, D góp 200.000 đồng cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus để cầm cố lấy tiền mua ma túy. Sau đó, H liên lạc với Huỳnh Dương K mua 500.000 đồng tiền ma túy thì K đồng ý và hẹn H đến khu vực Trường Trung học phổ thông Q thuộc Tổ A, phường A, thị xã A để giao ma túy. Tại đây, H đưa cho K 300.000 đồng và cầm cố 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6 Plus để lấy 01 gói ma túy loại Methamphetamine, trị giá 500.000đ. Có được ma túy, H đến nhà Phạm Khánh H3 thuộc thôn A, xã X, thị xã A, tỉnh Gia Lai đưa ma túy cho Phạm Văn P1. P1 làm bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi đưa cho Lê Thanh H, Nguyễn Hữu D, Phạm Anh K1 và Phạm Văn C tự sử dụng. Do đó, đã đủ cơ sở tuyên bố các bị cáo Lê Thanh H, Phạm Văn P1 và Nguyễn Hữu D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Huỳnh Dương K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger