|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/DS-ST
Ngày: 04-6-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiệp.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hứa Thanh Hải
Ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 388/2023/TLST -DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Cẩm T, sinh năm 1973; nơi cư trú: A Đ, phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: 6 đường V, tổ H, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện hợp pháp: Bà Đoàn Thị Ngọc T1, sinh năm 2001; nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: 78A, tổ D, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (đại diện theo ủy quyền – văn bản ủy quyền ngày 14/3/2024), có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; nơi cư trú: 107/3, tổ A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 10/10/2020 bà Hoàng Cẩm T cho bà Nguyễn Thị N vay số tiền 460.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, trả lãi hàng tháng, không thỏa thuận thời hạn vay. Việc vay tiền được lập thành “Giấy mượn tiền” và bà Nguyễn Thị N có ký tên ngày 10/10/2020. Thực hiện hợp đồng bà T đã giao đủ số tiền 460.000.000 đồng nhưng bà N không thực hiện đúng thỏa thuận về việc trả tiền gốc và lãi suất hàng tháng
Đến nay bà N vẫn chưa trả cho bà T số tiền nợ gốc và lãi suất nào cho bà N. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu bà N trả số tiền nợ gốc, tiền lãi tính đến ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 04/06/2024 là 460.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 44 tháng 14 ngày = 168.120.548 đồng
Tổng số tiền bà Nguyễn Thị N phải trả cho bà Hoàng Cẩm T tính đến ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm (04/06/2024) là 460.000.000 đồng + 168.120.548 đồng = 628.120.548 đồng
Buộc bà Nguyễn Thị N tiếp tục trả tiền lãi tính từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm đến khi bà N trả đủ tiền cho bà T với mức lãi suất là 10%/năm.
* Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị N vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng cho bị đơn theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 196, 208 và Điều 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị N vẫn cố tình vắng mặt. Như vậy, việc bị đơn vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật Dân sự; bị đơn có địa chỉ cư trú tại số nhà A, tổ A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương vì vậy thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc là 460.000.000 đồng và tiền lãi là 168.120.548 đồng. Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn xuất trình để khởi kiện đối với bị đơn là Giấy mượn tiền ngày 10/10/2020. Nội dung thể hiện bà Nguyễn Thị N có vay của T số tiền là 460.000.000 đồng, thời hạn không xác định, lãi suất theo lãi suất ngân hàng nhưng không thể hiện rõ là lãi suất bao nhiêu một tháng, năm. Quá trình vay tiền, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ đối với nguyên đơn, đến nay bị đơn chưa trả cho nguyên đơn số tiền gốc và lãi suất nào. Số tiền bà T cho bà N vay là tài sản của cá nhân bà T nên việc bà T không trả tiền vay đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà T. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc bị đơn bà N phải có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc 460.000.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, cụ thể tiền lãi tính đến ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 04/06/2024 là 460.000.000 đồng x 0,83%/tháng (10%/năm) x 44 tháng 14 ngày = 168.120.548 đồng. Căn cứ vào Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”, như vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi tính đến ngày 04/6/2024 với mức lãi suất 0,83%/tháng (10%/năm) số tiền là 168.120.548 đồng là có cơ sở.
Từ phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn gốc là 460.000.000 đồng và tiền lãi là 168.120.548 đồng.
[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.
[4] Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Cẩm T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Buộc bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm thanh toán cho bà Hoàng Cẩm T số tiền là 628.120.548 đồng (sáu trăm hai mươi tám triệu một trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng), trong đó tiền nợ gốc là 460.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu đồng), tiền lãi suất tính đến ngày 04/06/2024 là 168.120.548 đồng (một trăm sáu mươi tám triệu một trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả cho bà Hoàng Cẩm T số tiền 14.512.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm mười hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000802 ngày 09/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An.
- Bà Nguyễn Thị N phải chịu 9.124.822 đồng (chín triệu một trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm hai mươi hai đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Hiệp |
Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 43/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
