Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày 03/7/2024
“Vv Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đàm Thị Thanh Thủy;
Ông Nguyễn Đăng Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Khắc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Hoàng Thị N; sinh năm 1987; nơi thường trú: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Số B, phố Y, quận Q, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: anh Nguyễn Anh T; sinh năm 1972; nơi thường trú: Số nhà G, Tổ B, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: 19 phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Thị N đã hợp pháp hóa lãnh sự tại Văn phòng K tại Đ) trình bày:

Chị và anh Nguyễn Anh T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 98/2013 ngày 08/4/2013. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2015 do điều kiện kinh tế gia đình nên chị N xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn và được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, chị N nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Anh T.

Về con chung: vợ chồng có một con chung là Nguyễn Hoàng Như V; sinh ngày 23/6/2013, hiện nay cháu Nguyễn Hoàng Như V hiện nay đang ở với anh T nên chị N đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Hoàng Như V cho anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: chị N đề nghị cấp dưỡng mỗi tháng cho cháu Nguyễn Hoàng Như V là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai anh Nguyễn Anh T trình bày: về quá trình kết hôn, quá trình sống chung phù hợp với quan điểm của chị N trình bày nêu trên. Năm 2015 chị N đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng ít liên lạc do chị N luôn lấy lý do bận rộn công việc. Từ năm 2015 đến nay, chị N về Việt Nam thăm anh và con được hai lần, mỗi lần vài ngày. Theo anh T được biết thì chị N đã có gia đình riêng ở Đài Loan và anh T cũng không còn tình cảm với chị N nhưng anh T không đồng ý yêu cầu ly hôn của chị N.

Về con chung: một con chung là Nguyễn Hoàng Như V; sinh ngày 23/6/2013, hiện nay cháu Nguyễn Hoàng Như V hiện nay đang ở với anh T, khi ly hôn, anh T đồng ý được trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng đến khi 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh T đồng ý mức cấp dưỡng mỗi tháng cho cháu Nguyễn Hoàng Như V là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 10/4/2024 và 19/4/2024, anh Nguyễn Anh T đều vắng mặt.

* Ngày 07/5/2024, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã lập Biên bản xác minh hiện nay anh Nguyễn Anh T và cháu Nguyễn Hoàng Như V có hộ khẩu thường trú ở Số nhà G, Tổ B, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nhưng đã chuyển đến 19 phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội để sinh sống.

* Ngày 31/5/2024 và 07/6/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã đến nhà anh Nguyễn Anh T tại A phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội để lập Biên bản lấy nguyện vọng của cháu Nguyễn Hoàng Như V nhưng anh T đều vắng mặt nên Tòa án không thể lấy được nguyện vọng của cháu Nguyễn Hoàng Như V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung: đại diện VKS đề nghị: mặc dù anh T không đồng ý ly hôn nhưng cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, chị N được ly hôn với anh T. Về con chung: Mặc dù không ghi lời khai của cháu V, tuy nhiên xét thấy từ năm 2015 chị N sang Đài Loan sinh sống thì cháu V đều do anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, do đó để đảm bảo quyền lợi cho cháu V cần tiếp tục giao cháu V cho anh T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu V đến tuổi trưởng thành, chị N có trách nhiệm cấp dưỡng 3.000.000đ/1 tháng. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, nuôi con chung”; Nguyên đơn chị Hoàng Thị N hiện đang sinh sống, làm việc tại Đài Loan. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn chị Hoàng Thị N vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Anh T đều vắng mặt trong các phiên họp, phiên tòa (không có đơn xin vắng mặt). Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị N và anh Nguyễn Anh T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện ngày 08/4/2013 tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2015 do điều kiện kinh tế gia đình nên chị N xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn và được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Như vậy, vợ chồng mỗi người ở một nơi, anh T xác nhận không còn tình cảm với chị N, anh T không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thấy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N và giải quyết cho chị N được ly hôn với anh T.

[3] Về con chung: chị N và anh T có con chung là Nguyễn Hoàng Như V; sinh ngày 23/6/2013, hiện nay con chung đang ở cùng với anh T. Mặc dù Tòa án không lấy được ý kiến nguyện vọng của con chung nhưng xét đề nghị của chị N và anh T đều đồng ý Tòa án giao con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi sau khi ly hôn là phù hợp với điều kiện của anh T cũng như môi trường sống và không làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của con chung nên chấp nhận giao con chung cho anh T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị N có quan điểm cấp dưỡng cho con chung là 3.000.000 đồng/tháng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh T cũng đồng ý mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Như vậy có căn cứ chấp nhận đề nghị của chị N với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân gia đình. Buộc chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/tháng từ khi xét xử sơ thẩm tháng 7 năm 2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.

[5] Về tài sản chung và nợ chung giữa chị N và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: nguyên đơn chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117; khoản 2 Điều 123 và Điều 107 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị N được ly hôn anh Nguyễn Anh T.
  2. Về con chung: giao cho anh Nguyễn Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là Nguyễn Hoàng Như V; sinh ngày 23/6/2013, cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
  3. Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu chị Hoàng Thị N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Nguyễn Anh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy anh Nguyễn Anh T không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì chị Hoàng Thị N có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  4. Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Hoàng Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là: 3.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7/2024 đến khi con chung (cháu Nguyễn Hoàng Như V) đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
  5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Nguyễn Anh T, nếu chị Hoàng Thị N không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cấp dưỡng thì chị Hoàng Thị N còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Hoàng Thị N phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị N đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005765 ngày 20/02/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

    Chị Hoàng Thị N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Anh Nguyễn Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Chị Hoàng Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:
  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Mạo Khê, Tx. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị N - Nguyễn Anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger