Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/DS-ST

Ngày: 03/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Phước
  2. Ông Đặng Văn Chiểu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hiền T. Chức vụ: Trưởng phòng G.

Ông Trần Hiền T ủy quyền cho: Anh Huỳnh Tứ P, chức vụ: Phó phòng giao dịch P.

Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Chị Danh Thị Ý, sinh năm 1992.

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 11 năm 2023 và lời khai có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Huỳnh Tử P trình bày:

Vào ngày 12/3/2018, chị Danh Thị Ý có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh B - Phòng G, Bạc Liêu Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thông qua giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Căn cứ thu nhập của chị Danh Thị Ý, ngày 12/3/2018 Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận 2,5%/tháng, ngày chốt thông báo giao dịch là ngày 31 hàng tháng với mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, chị Danh Thị Ý đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 26/10/2023, chị Danh Thị Ý đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 26.133.100 đồng. Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc và yêu cầu chị Danh Thị Ý có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để chị Danh Thị Ý khoản nợ cho Ngân hàng nhưng đến nay chị Ý vẫn chưa thanh toán. Do chị Ý vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký, nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng yêu cầu chị Danh Thị Ý trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 11.668.275 đồng (Mười một triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc 8.166.851 đồng, lãi quá hạn: 3.501.424 đồng tính đến ngày 03/7/2024 và chị Ý có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 04/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn chị Danh Thị Ý đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Buộc chị Danh Thị Ý phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 03/7/2024 là 11.668.275 đồng (trong đó: nợ gốc 8.166.851 đồng, lãi quá hạn: 3.501.424 đồng) và lãi suất phát sinh từ ngày 04/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Về án phí: Chị Danh Thị Ý phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu chị Danh Thị Ý trả số tiền vay còn nợ, đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, chị Ý đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn cứ vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị Ý đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị Ý và anh P là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung khởi kiện: Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/3/2018, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, lãi suất 2,5%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, chị Danh Thị Ý đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 26/10/2023, chị Ý đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 26.133.100 đồng. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc và yêu cầu chị Ý có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để chị Ý trả nợ, tuy nhiên chị Ý vẫn chưa thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng. Do đó, chị Ý vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

[4] Quá trình tố tụng, tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng để thông báo cho chị Danh Thị Ý biết về việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị trả khoản tiền còn nợ. Tuy nhiên, chị Ý không có ý kiến gì về việc ngân hàng yêu cầu trả nợ. Từ đó, cho thấy chị Ý thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng. Căn cứ Điều 92 BLTTDS, đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh. Do đó, nay Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu chị Ý phải trả phần nợ gốc còn lại và lãi quá hạn là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

[5] Chị Ý được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, quá trình sử dụng thẻ, chị Ý còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 8.166.851 đồng. Đối với lãi theo hợp đồng thì lãi suất trong hạn là 2,5%/năm, tuy nhiên, do chị Ý vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn. Xét thấy, chị Ý và Ngân hàng có thỏa thuận lãi suất khi ký hợp đồng, nhưng chị Ý không trả nợ theo thỏa thuận. Do đó, Ngân hàng TMCP S yêu cầu chị Ý phải tiền lãi quá hạn 3.501.424 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận. Buộc chị Ý có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tính đến ngày 03/7/2024 là 11.668.275 đồng (Mười một triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc 8.166.851 đồng, lãi quá hạn: 3.501.424 đồng và chị Ý phải chịu lãi phát sinh từ ngày 04/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

[6] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Ý phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với chị Danh Thị Ý. Buộc chị Danh Thị Ý có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền là 11.668.275 đồng (Mười một triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc 8.166.851 đồng, lãi quá hạn: 3.501.424 đồng.
  2. Kể từ ngày 04/7/2024 chị Danh Thị Ý còn phải chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

  3. Về án phí: Chị Danh Thị Ý phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 583.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP S đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006367 ngày 13/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được nhận lại.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đẹp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 43/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger